Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích kỹ thuật tại công ty Chứng khoán 1.1 Khái niệm và đặc điểm của phân tích kỹ thuật 1.1 Khái niệm Phân tích kỹ thuật xuất hiện từ sớm theo những mô tả của Joseph de la Vega về thị trường Hà Lan trong thế kỷ 17. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng trước đó khoảng 300-400 năm đã xuất hiện phương pháp phân tích MACD tại New Zealand. Ở châu Á từ thế kỷ thứ 18, phương pháp kỹ thuật đã được phát triển thông qua việc sử dụng cây nến của Homma Munehisa. Về sau này có nhiều khái niệm được được ra theo những nghiên cứu và sử dụng của các nhà nghiên cứu khác nhau: Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá”.
Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương đương với phân tích cơ bản. Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:“Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung - cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường” Trong cuốn “phân tích kỹ thuật đối với thị trường tài chính”, John J. Murphy định nghĩa rằng: Phân tích kỹ thuật nghiên cứu các biến động thị trường, thông qua việc sử dụng các biểu đồ, với mục đích dự báo xu hướng giá trong tương lai.
Thuật ngữ biến động thị trường ở đây bao gồm ba nguồn thông tin cơ bản đối với phân tích kỹ thuật – giá, khối lượng và trạng thái mở của thị trường. 1 Hiện nay phân tích kỹ thuật (Technical analysis) được hiểu theo định nghĩa phổ biến nhất là phương pháp nghiên cứu các thống kê về biến động giá, khối lượng giao dịch để đánh giá chứng khoán và dự đoán xu hướng giá trong tương lai.2 Mục đích Phân tích kỹ thuật giúp nhà đầu tư xác định thời điểm nên mua vào, bán ra, hay nên tiếp tục nắm giữ tiếp cổ phiếu 1.3 Đặc điểm Phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu giá cả và khối lượng giao dịch.2 Cơ sở của phân tích kỹ thuật 1.1 Lý thuyết Dow Lý thuyết Dow được đặt tên theo Charles Dow, là chủ bút của tờ báo phố Wall. Ông đã sáng tạo ra chỉ số trung bình của thị trường và ngày nay được biết với cái tên chỉ số trung bình Dow Jones. Ngày nay lý thuyết Dow hiện đại được đưa ra nghiên cứu đã được William Hamilton phát triển và tổng hợp thành lý thuyết hoàn chỉnh.
Lý thuyết DOW được cho là nền tảng nguyên lý cơ bản cho sự ra đời của trường phái phân tích kỹ thuật. - Các nguyên lý cơ bản của lý thuyết Dow: ● Nguyên lý 1: Thị trường phản ánh tất cả: Tất cả các thông tin từ quá khứ, hiện tại cho đến tương lai đều ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và được phản ánh thông qua giá cổ phiếu và các chỉ số liên quan. Các thông tin bao gồm: lãi suất, lạm phát, thu nhập,… ● Nguyên lý 2: Ba xu thế của thị trường Xu thế chính: Xu thế này thường kéo dài từ 1 đến 3 năm. Không một ai có thể đoán được chu kỳ này và xu thế cũng không bị thao túng bởi bất cứ ai hay tổ chức nào.
Xu thế phụ: Kéo dài từ 1 đến 3 tháng. Ngoài ra, xu thế phụ luôn có xu hướng ngược với xu thế chính. 2 Xu thế nhỏ: sẽ kéo dài không quá 3 tuần. Thường sẽ đi ngược lại với xu thế phụ.
Thông thường nhà đầu tư sẽ tập trung giao dịch theo xu hướng chính. ● Nguyên lý 3: Xu hướng chính bao gồm 3 giai đoạn Giai đoạn tích lũy: Là giai đoạn mà thị trường biến động nhỏ, khởi đầu cho xu hướng là nơi các nhà đầu tư bắt đầu tìm cách tham gia thị trường. Đây là giai đoạn khó nhận biết nhất do rất khó để có thể nhận biết sự kết thúc của một xu hướng cũ. Giai đoạn bùng nổ: Là giai đoạn có sự biến động mạnh mẽ nhất của giá cổ phiếu.
Các nhà đầu tư bắt đầu nắm giữ một vị thế nhất định trên thị trường và thu được một nguồn lợi nhuận khổng lồ. Giai đoạn quá độ: Giai đoạn bên mua bắt đầu yếu thế. Đây là giai đoạn cuối của xu hướng và chuẩn bị cho một xu hướng khác. ● Nguyên lý 4: Các xu hướng xác định bởi khối lượng giao dịch: Trong một xu hướng, khối lượng giao dịch gia tăng theo hướng của xu hướng và giảm dần trong giai đoạn ngược lại xu hướng(giai đoạn điều chỉnh).
Tuy nhiên trong một số trường hợp, khối lượng vẫn đi ngược lại với xu hướng thể hiện lực yếu của xu hướng và khả năng cao nó sẽ đảo chiều trong thời gian sắp tới. ● Nguyên lý 5: Chỉ số bình quân phải xác định lẫn nhau Theo lý thuyết Dow, sự đảo chiều của thị trường phải được xác định từ 2 chỉ số. Theo truyền thống 2 chỉ số được sử dụng là chỉ số trung bình công nghiệp và chỉ số đường sắt. ● Nguyên lý 6: Xu hướng được duy trì cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều xuất hiện - Hạn chế của lý thuyết DOW: ● Lý thuyết DOW không phải lúc nào cũng đúng: tùy vào tình hình thực tế của thị trường mà lý thuyết DOW có thể đúng hoặc sai.
3 ● Lý thuyết DOW quá trễ: Thị trường biến động từng giây từng phút, nếu tuân thủ những nguyên lý cứng nhắc từ lý thuyết DOW sẽ mất đi cơ hội ở những phần đầu cũng như cuối của xu hướng biến động. ● Lý thuyết DOW không giúp nhà đầu tư khi có biến động trung gian: Điều này ảnh hưởng đến bộ phận nhà đầu tư ngắn hạn khi không đưa ra dấu hiện về sự thay đổi trong các biến động trung gian.2 Các loại biểu đồ trong phân tích kỹ thuật Biểu đồ dạng đường (Line chart): Chủ yếu được sử dụng trên các thị trường mới đi vào hoạt động, khớp lệnh định kỳ. Ưu điểm của loại này là dễ sử dụng.1 Ví dụ biểu đồ đường (nguồn: Fireant.vn) Biểu đồ then chắn (Bar chart): Được sử dụng do tính ưu việt phản ánh rõ sự biến động giá của chứng khoán với các đặc điểm thể hiện được giá mở cửa, giá đóng cửa, giá cận trên, giá cận dưới.2 Ví dụ biểu đồ then chắn (nguồn: Fireant.vn) Biểu đồ nến: Một cây nến sẽ có dạng: Hình 1.3 Ví dụ về cây nến Phần rộng nhất của cây nến được gọi là thân nến. Phần này mô tả khoảng cách giữa giá mở cửa và giá đóng cửa của phiên.
Giá đóng cửa cao hơn giá mở cửa thân nến sẽ có màu xanh và ngược lại thân nến sẽ có màu đỏ. Phần đường thẳng mỏng phía trên và dưới đường gọi là bóng nến thể hiện giá cực điểm cao 5 nhất và thấp nhất trong phiên. Trường hợp giá mở cửa trùng với giá đóng cửa sẽ không có thân nến mà chỉ có bấc nến.4 Ví dụ biểu đồ nến (nguồn: Fireant.3 Đường xu thế, kênh Đường xu thế là đường thể hiện một xu hướng bao gồm xu thế tăng và xu thế giảm. Với xu thế tăng tà có đường xu thế nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường xu thế nối các đỉnh thấp dần.
Quy trình để vẽ một đường xu thế đơn giản nhưng dễ có sự nhầm lẫn. Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện của một xu thế giá. Để vẽ một đường xu thế giá tăng cần xác định ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước. Thông thường người ta sẽ đợi thêm đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế sẽ đi qua cá 3 đáy một cách tương đối.5 Ví dụ về đường xu hướng (nguồn: Fireant.vn) 6 Kênh: là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó được gọi là kênh.
Dải đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau. Vấn đề là làm sao có thể xác định được hai đường này.6 Ví dụ về kênh Mỗi lần giá chạm hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại đến đường còn lại là một lần kênh được kiểm tra. Kênh tồn tại càng lâu thì độ tin cậy sẽ càng cao. Kênh có thể là công cụ để kiếm lợi trong ngắn hạn.
Thậm chí nhiều nhà đầu tư còn sử dụng kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng xu thế thị trường nhằm kiếm được những khoản lợi nhuận lớn.4 Hỗ trợ, kháng cự Đường hỗ trợ, đường kháng cự: Việc nghiên cứu về mức kháng cự và hỗ trợ rất quan trọng với phân tích kỹ thuật. Nó cho phép người nghiên cứu có thêm cơ sở chọn cổ phiếu để mua hay bán. Trên thực tế nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng một “hệ thống đầu tư” riêng hầu hết dựa vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ. Mức hỗ trợ là mức giá tại đó lượng cầu là đủ để làm dừng xu hướng giảm của thị trường và có thể đổi chiều xu hướng đó.
Ngược lại với mức kháng cự mà tại đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng do lượng cung đủ để có thể làm xu hướng đổi chiều.7 Ví dụ về đường hỗ trợ (nguồn: Fireant.8 Ví dụ về đường kháng cự (nguồn: Fireant.5 Những chỉ báo kỹ thuật Chỉ báo kỹ thuật là công cụ được xây dựng dựa trên mô hình bắt nguồn từ dữ liệu lịch sử được sử dụng bởi các nhà giao dịch kỹ thuật hoặc nhà đầu tư để dự đoán xu hướng giá trong tương lai và đưa những quyết định giao dịch. Một chỉ báo kỹ thuật thường được hiển thị bằng đồ thị và được so sánh với biểu đồ giá tương ứng để phân tích. Cơ chế của một chỉ báo kỹ thuật là nắm bắt hành vi và đôi khi là tâm lý của những nhà đầu tư để cung cấp manh mối về xu hướng hoạt động giá trong tương lai.