Đề xuất cải tiến mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ phân tích mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp tại Việt Nam và đề xuất cải tiến hiệu quả.

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2007

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

1.1. THẨM ĐỊNH GIÁ VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm về thẩm định giá

1.1.2. Doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, và thẩm định giá doanh nghiệp

1.1.3. Mục tiêu thẩm định giá doanh nghiệp

1.1.4. Cơ sở thẩm định giá doanh nghiệp

1.1.5. Nguyên tắc thẩm định giá doanh nghiệp

1.1.6. Quy trình thẩm định giá doanh nghiệp

1.2. KHÁI LƯỢC VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP PHỔ BIẾN

1.2.1. Các phương pháp thẩm định giá dựa vào bảng cân đối kế toán

1.2.1.1. Giá trị sổ sách
1.2.1.2. Giá trị sổ sách điều chỉnh
1.2.1.3. Giá trị thanh lý
1.2.1.4. Giá trị thay thế

1.2.2. Các phương pháp thẩm định giá dựa vào bảng báo cáo thu nhập

1.2.2.1. Sử dụng tỷ số giá-thu nhập (PER)
1.2.2.2. Sử dụng tỷ số giá-doanh thu (PS)
1.2.2.3. Các tỷ số khác

1.2.3. Các phương pháp thẩm định giá dựa vào lợi thế thương mại

1.2.4. Mô hình cổ điển

1.2.4.1. Mô hình UEC giản lược
1.2.4.2. Mô hình UEC
1.2.4.3. Mô hình gián tiếp
1.2.4.4. Mô hình trực tiếp (hay Anglo-Saxon)

1.2.5. Các phương pháp thẩm định giá dựa vào dòng lưu kim chiết khấu

1.2.5.1. Vị trí của các mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong công tác thẩm định giá doanh nghiệp
1.2.5.2. Mô hình DCF tổng quát
1.2.5.3. Các biến thể của mô hình DCF
1.2.5.4. Khái quát về các mô hình điều chỉnh tỷ suất chiết khấu

1.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH DÒNG LƯU KIM CHIẾT KHẤU VÀ CÁC BIẾN THỂ CỦA NÓ

2.1. CÁC MÔ HÌNH ĐIỀU CHỈNH TỶ SUẤT CHIẾT KHẤU

2.1.1. Mô hình DDM

2.1.2. Mô hình FCFE

2.1.3. Mô hình FCFF

2.1.4. Công thức tổng quát cho các phiên bản tăng trưởng của các mô hình điều chỉnh tỷ suất chiết khấu

2.2. CÁC MÔ HÌNH TƯƠNG ĐƯƠNG CHẮC CHẮN

2.3. CÁC MÔ HÌNH THU NHẬP VƯỢT TRỘI

2.3.1. Mô hình EVA

2.3.2. Mô hình EP

2.3.3. Mô hình CFROI

2.4. MÔ HÌNH GIÁ TRỊ HIỆN TẠI HIỆU CHỈNH (APV)

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG MÔ HÌNH DCF TRONG THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

3.1. BỐI CẢNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP Ở NƯỚC TA

3.2. KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP

3.3. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC MÔ HÌNH DCF TRONG THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

3.3.1. Tổng quan về việc vận dụng các phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp ở nước ta

3.3.2. Thực trạng vận dụng các mô hình DCF trong thẩm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam thời gian qua

3.3.3. Về nội dung của phương pháp DCF

3.3.4. Về kỹ thuật dự báo dòng lưu kim kỳ vọng

3.3.5. Về kỹ thuật ước lượng tỷ suất chiết khấu

3.3.6. Về vấn đề ước lượng tốc độ tăng trưởng kỳ vọng

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI TIẾN VIỆC VẬN DỤNG MÔ HÌNH DCF TRONG THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

4.1. VẤN ĐỀ DỰ BÁO DÒNG LƯU KIM KỲ VỌNG

4.2. Một số gợi ý chính sách

4.3. Các đề xuất cải tiến cụ thể

4.4. Thu thập và chuẩn bị dữ liệu

4.5. Vận dụng mô hình dự báo thích hợp

4.6. Đo lường sai số dự báo và chọn lựa mô hình thích hợp

4.7. Hiệu chỉnh kết quả dự báo

4.8. VẤN ĐỀ ƯỚC LƯỢNG TỶ SUẤT CHIẾT KHẤU

4.9. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH KHÁC

4.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

LỜI KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Mô hình tăng trưởng ổn định Gordon trong định giá cổ phiếu

Phụ lục 2. Trích minh hoạ số 1 và số 2 của phụ lục số 2, ban hành theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 04.2004 của Bộ Tài chính

Phụ lục 3. Tổng quan về dự báo theo mô hình dãy số thời gian và ví dụ minh họa cho gợi ý chính sách

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá

Mô hình dòng lưu kim chiết khấu (DCF) là một trong những phương pháp thẩm định giá doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay. Phương pháp này dựa trên nguyên tắc rằng giá trị của một tài sản được xác định bởi dòng tiền mà tài sản đó tạo ra trong tương lai, được chiết khấu về giá trị hiện tại. Việc áp dụng mô hình DCF giúp các nhà đầu tư và chuyên gia thẩm định giá có cái nhìn rõ ràng hơn về giá trị thực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này cũng gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc dự báo dòng tiền và xác định tỷ suất chiết khấu.

1.1. Khái niệm và nguyên lý hoạt động của mô hình DCF

Mô hình DCF hoạt động dựa trên nguyên lý rằng giá trị hiện tại của một doanh nghiệp là tổng giá trị của các dòng tiền tương lai mà doanh nghiệp đó sẽ tạo ra. Dòng tiền này được chiết khấu về hiện tại bằng một tỷ suất chiết khấu phù hợp. Việc xác định dòng tiền kỳ vọng và tỷ suất chiết khấu là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác của mô hình.

1.2. Lợi ích của việc sử dụng mô hình DCF trong thẩm định giá

Mô hình DCF cung cấp một cái nhìn sâu sắc về giá trị nội tại của doanh nghiệp, giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư chính xác hơn. Nó cũng cho phép đánh giá các yếu tố như tăng trưởng doanh thu, chi phí và rủi ro tài chính, từ đó đưa ra các dự báo chính xác hơn về giá trị doanh nghiệp.

II. Những thách thức trong việc áp dụng mô hình dòng lưu kim chiết khấu

Mặc dù mô hình DCF có nhiều ưu điểm, nhưng việc áp dụng nó trong thực tế cũng gặp không ít khó khăn. Các thách thức này bao gồm việc dự báo dòng tiền chính xác, xác định tỷ suất chiết khấu phù hợp và xử lý các yếu tố không chắc chắn trong tương lai. Những vấn đề này có thể dẫn đến sai lệch trong kết quả thẩm định giá.

2.1. Dự báo dòng tiền kỳ vọng Khó khăn và giải pháp

Dự báo dòng tiền là một trong những bước quan trọng nhất trong mô hình DCF. Tuy nhiên, việc này thường gặp khó khăn do sự biến động của thị trường và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Để cải thiện độ chính xác, cần sử dụng các phương pháp phân tích dữ liệu và mô hình hóa tiên tiến.

2.2. Xác định tỷ suất chiết khấu Thách thức và phương pháp

Tỷ suất chiết khấu là yếu tố quyết định trong mô hình DCF. Việc xác định tỷ suất này không chỉ dựa vào chi phí vốn mà còn phải xem xét các yếu tố rủi ro. Sử dụng mô hình CAPM (Capital Asset Pricing Model) có thể giúp xác định tỷ suất chiết khấu một cách hợp lý hơn.

III. Phương pháp cải tiến mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá

Để nâng cao độ chính xác của mô hình DCF, cần áp dụng một số phương pháp cải tiến. Những cải tiến này có thể bao gồm việc sử dụng dữ liệu lịch sử để dự báo dòng tiền, áp dụng các mô hình tài chính phức tạp hơn và cải thiện quy trình xác định tỷ suất chiết khấu.

3.1. Sử dụng dữ liệu lịch sử để dự báo dòng tiền

Việc phân tích dữ liệu lịch sử giúp nhận diện các xu hướng và mô hình trong dòng tiền của doanh nghiệp. Điều này có thể cải thiện độ chính xác của các dự báo dòng tiền trong tương lai.

3.2. Áp dụng mô hình tài chính phức tạp hơn

Sử dụng các mô hình tài chính phức tạp như mô hình tăng trưởng hai giai đoạn hoặc ba giai đoạn có thể giúp phản ánh chính xác hơn sự biến động của dòng tiền trong các giai đoạn khác nhau của doanh nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn của mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá

Mô hình DCF đã được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ thẩm định giá doanh nghiệp đến đánh giá các dự án đầu tư. Việc áp dụng mô hình này không chỉ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc lập kế hoạch tài chính và chiến lược phát triển.

4.1. Thực trạng áp dụng mô hình DCF tại Việt Nam

Tại Việt Nam, mô hình DCF đang dần trở thành phương pháp thẩm định giá phổ biến. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa áp dụng đúng cách, dẫn đến kết quả không chính xác. Cần có sự đào tạo và nâng cao nhận thức về mô hình này.

4.2. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của mô hình DCF

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình DCF giúp cải thiện đáng kể độ chính xác trong thẩm định giá doanh nghiệp. Các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư tốt hơn khi có thông tin chính xác về giá trị doanh nghiệp.

V. Kết luận và tương lai của mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá

Mô hình dòng lưu kim chiết khấu là một công cụ mạnh mẽ trong thẩm định giá doanh nghiệp. Tuy nhiên, để phát huy tối đa hiệu quả, cần có những cải tiến và ứng dụng phù hợp với thực tiễn. Tương lai của mô hình này sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong môi trường kinh doanh và công nghệ.

5.1. Tương lai của mô hình DCF trong bối cảnh kinh tế hiện đại

Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, mô hình DCF sẽ tiếp tục phát triển và được cải tiến để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Việc áp dụng công nghệ mới và dữ liệu lớn sẽ giúp nâng cao độ chính xác của mô hình.

5.2. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về việc cải tiến mô hình DCF, đặc biệt là trong việc áp dụng các công nghệ mới và phương pháp phân tích dữ liệu. Điều này sẽ giúp nâng cao độ tin cậy và tính chính xác của các kết quả thẩm định giá.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp ở việt nam một số đề xuất cải tiến

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu (từ trang 01 đến trang 14) trình bày những vấn đề chung liên quan đến mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, luận văn này gồm có 4 chương sau đây: ƒ Chương 1: Tổng quan lý thuyết về thẩm định giá doanh nghiệp. (Từ trang 15 đến trang 49) ƒ Chương 2: Mô hình dòng lưu kim chiết khấu và các biến thể của nó. (Từ trang 50 đến trang 63) ƒ Chương 3: Thực trạng vận dụng mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam. (Từ trang 64 đến trang 81) ƒ Chương 4: Một số đề xuất cải tiến việc vận dụng mô hình dòng lưu kim chiết khấu trong thẩm định giá doanh nghiệp ở Việt Nam.

(Từ trang 82 đến trang 104) Lời kết luận (từ trang 105 đến trang 107) sẽ trình bày một cách khái quát về kết quả nghiên cứu cũng như những đóng góp tiềm năng của đề tài trên cả hai TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 24 phương diện lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tác giả cũng sẽ chỉ ra những hạn chế của đề tài và các gợi ý nghiên cứu bổ sung trong tương lai. Phần phụ lục (từ trang PL1-1 đến trang PL3-38) thuyết minh thêm một số vấn đề liên quan đến nội dung chính của đề tài, hoặc cung cấp các dữ liệu phục vụ việc phân tích trong đề tài, bao gồm: ƒ Phụ lục 1: Mô hình tăng trưởng ổn định Gordon trong định giá cổ phiếu. ƒ Phụ lục 2: Trích minh hoạ số 1 và số 2 của Phụ lục số 2, ban hành theo Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 04.2004 của Bộ Tài chính.

ƒ Phụ lục 3: Tổng quan về dự báo theo mô hình dãy số thời gian và ví dụ minh hoạ cho gợi ý chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 25 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1. THẨM ĐỊNH GIÁ VÀ THẨM ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1.

Khái niệm về thẩm định giá Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (UBTCTĐGQT, 2006: 431), định nghĩa một cách ngắn gọn: thẩm định giá là một “quá trình ước tính giá trị”.Seabrooke thuộc Viện Đại học Portsmouth, Vương quốc Anh cho rằng “thẩm định giá là sự ước tính giá trị của các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định”(Cục quản lý giá, 2007: 203). Giáo sư Lim Lan Yuan, Tổng thư ký Hiệp hội thẩm định giá Asean, Chủ tịch Hiệp hội các tổ chức thẩm định giá thế giới định nghĩa rằng “thẩm định giá là một nghệ thuật hay khoa học về ước tính giá trị cho một mục đích cụ thể của một tài sản cụ thể tại một thời điểm, có cân nhắc đến tất cả những đặc điểm của tài sản cũng như xem xét tất cả các yếu tố kinh tế căn bản của thị trường” (Cục quản lý giá, 2007: 203). Ở nước ta, khoản 2, điều 4 của Pháp lệnh giá Việt Nam 7 chỉ rõ:“Thẩm định TPF FPT giá là việc đánh giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”. Có thể thấy khái niệm về thẩm định giá ở Việt Nam cũng chứa đựng những nội dung cơ bản, và tương tự như khái niệm thẩm định giá trên thế giới, nghĩa là 7 TP Pháp lệnh số 40/2002/PL-UBTVQH10 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá X, ngày 26/04/2002 về giá.

PT Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2002. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 26 cũng bao hàm một sự ước tính giá trị của một tài sản nhất định, cho những mục đích nhất định. Khái niệm trên cũng chỉ ra rằng mục đích của thẩm định giá chính là xuất phát điểm cho việc lựa chọn quy trình và phương pháp để ước tính giá trị của tài sản. Mục đích thẩm định giá khác nhau có thể dẫn các đến quy trình và phương pháp ước tính giá trị tài sản khác nhau.

Ngay cả quá trình “ước tính” cũng hàm chứa khả năng tạo ra những kết quả thẩm định giá không thống nhất cho cùng một loại tài sản và cùng một mục đích thẩm định giá, bởi việc “ước tính” ấy có thể được thực hiện dựa trên những nền tảng giả định và niềm tin khác nhau. Doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp, và thẩm định giá doanh nghiệp Khoản 1, điều 4, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 8 định nghĩa: “doanh nghiệp TPF FPT là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Vì là một tổ chức, có tài sản, theo đuổi mục tiêu sinh lợi thông qua những hoạt động kinh doanh của con người, nên rõ ràng giá trị doanh nghiệp sẽ phải khác với giá trị một tài sản thuần tuý. Giá trị của doanh nghiệp không chỉ là phép cộng giản đơn giá trị của các tài sản hữu hình hiện có tại doanh nghiệp, mà còn phải tính đến giá trị của các tài sản vô hình cũng như các tác động của tình hình hoạt động kinh doanh trong hiện tại và những triển vọng trong tương lai, tình hình tài chính, những ưu thế về nguồn lực con người trong doanh nghiệp, và ngay cả lợi thế của vị trí mà trụ sở doanh nghiệp đang toạ lạc.

Điều này cũng hàm ý rằng thẩm định giá doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp hơn nhiều lần so với việc thẩm định giá một tài sản riêng biệt nào đó. 8 TP Luật doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông PT T qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ 01/07/2006. T TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 27 Một cách khái quát, nếu xuất phát từ khái niệm thẩm định giá đã nêu ở trên, ta có thể hiểu thẩm định giá doanh nghiệp là sự ước tính giá trị doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định, và bằng những phương pháp nhất định phù hợp với mục đích thẩm định đó. Ủy ban tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế định nghĩa rằng “thẩm định giá doanh nghiệp là một hoạt động hay quá trình thực hiện để đạt được việc đánh giá hay ước tính giá trị của một doanh nghiệp, công việc kinh doanh, hoặc các khoản lợi ích của chúng”(UBTCTĐGQT, 2006: 229).

Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn những cách gọi khác nhau như: thẩm định giá doanh nghiệp ; xác định giá trị doanh nghiệp ; ước tính giá trị doanh nghiệp; hay đơn giản chỉ là lượng giá doanh nghiệp. Tuy vậy, để đảm bảo tính nhất quán, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ thẩm định giá doanh nghiệp trong toàn bộ luận văn này. Mục tiêu thẩm định giá doanh nghiệp Nói chung, giá trị một doanh nghiệp nào đó không chỉ khác nhau đối với những người mua khác nhau, mà còn khác nhau giữa người mua và người bán. Sự khác nhau này có thể đến từ vô số lý do như: sự khác biệt về mục tiêu giữa người mua và người bán ; hoặc sự khác biệt trong niềm tin về triển vọng của doanh nghiệp hoặc của ngành mà doanh nghiệp đang sinh hoạt trong đó.

Chẳng hạn như một doanh nghiệp nước ngoài có quy mô lớn và trình độ kỹ thuật công nghệ cao muốn mua lại một doanh nghiệp nội địa khá nổi tiếng để xâm nhập thị trường và tận dụng sự nổi tiếng của thương hiệu nội địa này. Đứng trên quan điểm của doanh nghiệp nước ngoài (người mua), họ chỉ định giá cho thương hiệu chứ không phải cho các tài sản, máy móc.của doanh nghiệp nội địa, đơn giản bởi vì bản thân họ đã có trình độ công nghệ tiến bộ hơn. Do vậy, mục tiêu cơ bản của người mua là ước tính mức giá tối đa mà họ có thể trả cho những gì mà doanh nghiệp nội địa có thể đóng góp cho hoạt động tương lai của mình (tức ước tính mức giá có thể trả cho giá trị của thương hiệu nội địa). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 28 Đứng trên góc độ của người bán, doanh nghiệp nội địa cố gắng ước tính mức giá tối thiểu mà họ sẽ chấp nhận bán, và mức giá này phải phản ảnh được giá trị của cả những nguồn tài nguyên (máy móc, thiết bị.) phục vụ sản xuất mà họ sở hữu.

Hai mức giá nêu trên sẽ là hai thái cực được đưa ra trên bàn thương lượng cho đến khi cả hai bên mua-bán nhất trí được một mức giá chung, nằm đâu đó giữa hai thái cực này. Minh hoạ trên cho thấy mục tiêu thẩm định sẽ có tác động mang tính quyết định đến kết quả thẩm định giá doanh nghiệp. Việc thẩm định giá doanh nghiệp có thể phục vụ cho nhiều mục tiêu đa dạng khác nhau. Các mục tiêu khác nhau sẽ kéo theo sự khác nhau trong quy trình và phương pháp thẩm định, dẫn tới những kết quả có thể không hoàn toàn giống nhau.

Phần dưới đây tóm tắt một số mục tiêu chủ yếu của việc thẩm định giá doanh nghiệp. ƒ Kết quả thẩm định giá doanh nghiệp là căn cứ cho các thương lượng trong hoạt động hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp, thành lập liên doanh hoặc thay đổi tỷ lệ sở hữu giữa các bên liên doanh. ƒ Kết quả thẩm định giá doanh nghiệp là căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt chi từ ngân sách Nhà nước, tính thuế, xác định giá trị tài sản đảm bảo vay vốn ngân hàng, mua bảo hiểm, cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn, cổ phần hóa, giải thể doanh nghiệp DNNN. ƒ Kết quả thẩm định giá trị các doanh nghiệp cổ phần đã niêm yết là cơ sở để các nhà đầu tư (tổ chức và cá nhân) quyết định mua, bán, hay cầm giữ chứng khoán do các doanh nghiệp phát hành.

Giá trị của doanh nghiệp còn được nhà đầu tư sử dụng để quyết định nên tập trung vào loại chứng khoán nào (chẳng hạn những chứng khoán dường như đang được thị trường định giá thấp hơn giá trị nội tại của chúng) trong danh mục đầu tư của mình. ƒ Như đã nêu trong lời mở đầu của luận văn, đứng trên góc độ của công ty cổ phần thực hiện huy động vốn, kết quả thẩm định giá doanh nghiệp sẽ là cơ sở quan trọng cho việc xác định giá khởi điểm của cổ phiếu trong đấu giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 29 một cách phù hợp. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của bản thân doanh nghiệp và các nhà đầu tư, mà còn đảm bảo cho sự thành công của quá trình phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ