Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng luận về cơ giới hóa trồng rừng tràm bông vàng và cày ngầm 1. Tổng luận về cây tràm bông vàng Cây tràm bông vàng (hình 1.1) còn có tên là cây keo lá tràm có danh pháp khoa học là Acacia auriculiformis là một loài cây thuộc chi Acacia. Loài này trong tiếng Việt còn có tên gọi khác là keo lưỡi liềm, tên này được sử dụng nhiều khi loài này mới nhập nội vào Việt Nam (thập kỷ 1960-1970), sau này người ta sử dụng rộng rãi tên gọi tràm bông vàng.
Cây tràm bông vàng được phân bố tự nhiên ở vùng Indonesia và Papua New Guinea. Hiện tại được trồng rộng rãi tại nhiều quốc gia ở vùng nhiệt đới. Rừng tràm bông vàng. Loài cây này được trồng với mục đích làm cây cảnh, cây lấy bóng râm và để lấy gỗ.
Gỗ của nó có thể dùng trong sản xuất giấy, đồ gỗ gia dụng và các công cụ. Nó có chứa tanin nên có thể dùng trong công nghiệp thuộc da. Tại Ấn Độ, gỗ và than củi từ keo lá chàm dùng làm nguồn nhiên liệu. Nhựa gôm từ keo lá chàm cũng được buôn bán ở quy mô thương mại, nhưng người ta cho rằng nó ít có ích hơn khi so với gôm Ả Rập (lấy từ Acacia senegal hay Acacia seyal).
Loài cây này cũng được thổ dân Australia dùng làm thuốc giảm đau. Các chất chiết ra từ gỗ lõi của keo lá tràm có tác dụng chống nấm làm hỏng gỗ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Keo lá tràm là loài cây thuộc họ Đậu, ở rễ có nốt sần ký sinh chứa vi khuẩn nốt rễ có tác dụng tổng hợp đạm tự do, cải tạo môi trường đất, khối lượng vật rơi rụng của keo lá tràm hàng năm cũng rất cao, cây keo lá tràm thường được dùng nhiều trong cải tạo đất sản xuất lâm nghiệp. Đặc điểm sinh trưởng của loài này khá nhanh và thích nghi rộng, nên keo lá tràm nhanh chóng trở thành loài cây được trồng phủ xanh đất trống đồi trọc và cho nguyên liệu bột giấy ở nước ta.
Cây tràm bông vàng có thể được trồng làm cây phù trợ cây bản địa, chịu bóng. Như nó có thể trồng hỗn giao theo hàng với cây bản địa lá rộng Trám trắng, Dẻ đỏ., hoặc bố trí trồng xen giữa các hàng của cây lá rộng. Cây tràm bông vàng cũng có thể trồng làm cây "đến trước" để sau đó trồng cây bản địa. Như trồng trên diện rộng hoặc hỗn giao với Thông theo đám, sau 2-3 năm trồng cây bản địa lá rộng dưới tán hoặc trong các đám hỗn giao Keo với Thông bố trí theo hàng như trồng Thông.
Cự li mật độ trồng ban đầu đối với trồng làm cây phù trợ cây bản địa lá rộng có cự li 3x2m, mật độ 1. Thời vụ trồng cây tràm bông vàng với Vụ Xuân từ 10/tháng 2 đến 30/ tháng 3, còn Vụ Thu từ tháng 7 đến tháng 9 Cây tràm bông vàng cho gỗ cao tới 25 - 30m, cành nhỏ, tự tỉa cành tốt, dễ trồng bằng hạt, sống lâu, cố định đạm. Có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, kể cả đất nghèo kiệt, thoát nước kém. Cây mọc nhanh, tốc độ sinh trưởng cao trong vài năm đầu.
Song trên một nơi nếu trồng nhiều chu kì liên tục có thể dẫn tới nghèo Kali và Mg trong đất. Gỗ làm trụ mỏ, bột giấy (giấy gói), ván dăm, thân cành làm củi tốt do nhiệt lượng của than cao. Trong lâm sinh dùng làm cây trồng phù trợ cải tạo đất, che bóng. Tổng luận về cơ giới hóa trồng rừng và cày ngầm 1.
Tổng luận về cơ giới hóa trồng rừng Ở các nước phát triển, công việc trồng rừng đều được cơ giới hóa bằng các máy móc chuyên dùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ở Việt Nam, trước năm 1980, công tác trồng rừng chủ yếu bằng lao động thủ công với công cụ cầm tay như công cụ khoan hố bằng sức người, dao, cuốc, xẻng,… Vì vậy năng suất lao động thấp, giá thành trồng rừng cao, không hoàn thành mục tiêu của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn này về kế hoạch trồng rừng. Đồng thời chất lượng trồng rừng kém ngay từ khâu chuẩn bị đất trồng, đào hố, trồng và chăm sóc làm cho tỉ lệ cây trồng sống thấp, khó khăn cho việc sử dụng cơ giới cho các khâu chăm sóc và khai thác sau này. Cuối giai đoạn 1980, cây tràm bông vàng bắt đầu được đưa vào trồng diện rộng ở nước ta nhằm phủ xanh đất trống, đồi trọc vì khả năng phát triển rất nhanh, cho năng suất, sản lượng khai thác rất cao hơn nhiều loại cây rừng khác.
Thời gian này nhiều lâm trường quốc doanh được thành lập với mục đích trồng cây làm nguyên liệu giấy như Lâm trường nguyên liệu giấy Trị An (Đồng Nai), Chiến Thắng (Bà Rịa – Vũng Tàu),… Trước nhu cầu của thực tế trồng rừng (trong đó có cây tràm bông vàng là cây rừng trồng chủ lực của nước ta), năm 1987 Bộ Lâm nghiệp ( nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn) đã giao Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và TS. Nguyễn Thanh Quế chủ trì thực hiện đề tài cấp Bộ Nông nghiệp “Nghiên cứu xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật công cụ và cơ giới hóa dùng trong lâm nghiệp trên một số đất trống đồi núi trọc chủ yếu” mã số NN078. Đề tài được nghiệm thu vào tháng 01/1990. Nội dung nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu các đặc tính cơ lý của đất trống đồi núi trọc làm cơ sở đánh giá các biện pháp làm đất khác nhau như xử lý thực bì, cày ngầm, làm bậc thang bằng máy ủi trên đất dốc.
Đồng thời nghiên cứu khảo nghiệm một số máy làm đất như cày ngầm CNS70KT và CNS70KV, cày giữa hàng CTC.35 để làm cơ sở xây dựng quy trình làm đất cơ giới bằng động lực cho vùng đất Tây Nguyên. Như vậy cày ngầm tham gia vào canh tác trồng rừng tràm bông vàng với vai trò làm đất. Phương pháp làm đất trồng rừng của tác giả Nguyễn Thanh Quế đề xuất tương đồng với các kết quả nghiên cứu tại Mỹ thuộc thập niên 1960 - 1970. Phương pháp làm đất này thuộc phương pháp làm đất tối thiểu, thay thế phương pháp làm đất cổ truyền cày lật úp bằng xới không lật.
Kết quả thí nghiệm cho thấy xới không lật so với cày trụ giảm chi phí lao động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 50 %, giảm chi phí trực tiếp sản xuất 35 %. Giảm chi phí sản xuất cho khâu làm đất 30 40 %. Cũng giai đoạn này, Lâm trường Nguyên liệu Giấy Trị An (Đồng Nai) đã thực hiện khai hoang trồng mới rừng tràm bông vàng lân cận vùng lòng Hồ Trị An để làm nguyên liệu giấy. Việc làm đất trồng tràm bông vàng đã được Lâm trường Nguyên liệu Giấy Trị An áp dụng bằng cơ giới với 1 lần cày phá lâm 3 chảo và 2 lần cày lật rạ 7 chảo.
Ở những khu đất trồng còn nhiều cây lúp xúp, cỏ dại, còn tiến hành thêm một lần phạt gốc bằng máy phát cỏ trục đứng chế tạo theo mẫu máy phát cỏ tại các sân bay trước giải phóng. Một điều ghi nhận, các máy phát cỏ và máy làm đất còn sử dụng ở khâu chăm sóc như phát cỏ và cày úp diệt cỏ giữa băng trồng. Tuy nhiên hố trồng cây chàm bông vàng vẫn là đo dạc cắm tiêu từng hố đào và đào bằng công cụ thủ công. Dựa trên các kết quả nghiên cứu khoa học của các đề tài, dự án và theo dõi quá trình canh tác rừng trồng trong đó có khâu trồng, ngày 26/02/1990, Bộ Lâm nghiệp đã ra quyết định Số: 112-LS/CNR , ban hành quy phạm kỹ thuật trồng rừng.
Trong đó điều 16 và điều 17 của quyết định này nêu rõ: Điều 16: Làm đất cuốc hố thì: - Cuốc hố theo đường đồng mức, trên băng theo hình nanh sấu. - Kích thước hố 30 x 30 x 30cm. Có điều kiện thì 40 x 40 x 40cm. - Lấp hố trước khi trồng 15 - 20 ngày.
Dùng lớp đất mặt trộn đều với đất quanh thành hố, lấp đầy miệng hố. Làm đất bằng cơ giới thì: - Cày toàn diện, cày theo băng, san bằng bậc thang, tuỳ theo địa hình và khả năng máy móc đầu tư. - Cày ngầm sâu 0,5-0,6cm. Cày trước khi trồng ít nhất là 20 ngày không cày trước quá 1 tháng.
- Cuốc hố trên bậc cày 20 x 20 x 20cm có thể cuốc hố trước hoặc vừa cuốc vừa trồng. Có điều kiện thì bón lót bằng phân chuồng, hoặc phân hoá học. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Phân chuồng bón 0,5 - 1kg/hố. - Phân hoá hoặc NPK, hoặc hỗn hợp đạm lân kali trong đó tỷ lệ lân chiếm khoảng 2/3.
Bón vào thời gian lấp hố, trước khi trồng 5-7 ngày. Điều 17: Trồng rừng 1) Thời vụ: Chủ yếu trồng vào vụ xuân. Trong điều kiện đặc biệt cho phép trồng vào vụ thu. Trong vụ trồng phải tránh những ngày có gió nóng tây nam, nắng gắt nhiệt độ lên cao (Tới 30oC), có gió mạnh (tới cấp 4) hoặc lượng mưa không đủ ấm.
2) Mật độ trồng 2500 cây/ha. 3) Tiến hành trồng: Tránh làm bầu bị biến dạng hoặc bị vỡ phải bỏ vỏ bầu trước khi trồng. - Dùng cuốc trộn lại đất trong hố cho đều, sau đó lấy thêm đất đắp dần vào hố. - Dùng cuốc đào một lỗ nhỏ đủ để đặt bầu ngang mặt hố giữ cho cây ngang thẳng, lấp đất dần và lèn chặt quanh bầu Năm 2006, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam tiếp tục triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Nông nghiệp mang mã số VI24 – 277 “Nghiên cứu lựa chọn thiết bị và hoàn thiện công nghệ sử dụng cơ giới để phục vụ trồng rừng thâm canh trên một số vùng kinh tế Lâm nghiệp trọng điểm” do ThS.
Đoàn Văn Thu làm chủ nhiệm. Đề tài triển khai trong thời gian khá dài từ 1/1/2006 đến 31/12/2010, trải khắp các vùng Lâm nghiệp trọng điểm của Đất nước là Tây Bắc, Trung Tâm, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Mục tiêu của đề tài VI24 – 27 là nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, giảm giá thành sản phẩm, cải tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng và sử dụng bền vững đất trồng rừng, nâng cao tỷ lệ cơ giới hoá trong sản xuất lâm nghiệp, lựa chọn được hệ thống thiết bị cơ giới làm đất và chăm sóc. Phương pháp nghiên cứu của đề tài là điều tra khảo sát, lựa chọn thiết bị, xây dựng mô hình thử nghiệm, đánh giá hiệu quả và đưa ra quy trình công nghệ thích hợp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài VI – 27 là : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.