LỜI NÓI ĐẦU Lịch sử đã chứng minh không một quốc gia nào, lãnh thổ nào trên thế giới có thể phát triển phồn vinh mà vẫn duy trì nền kinh tế đóng. Xuất phát từ đƣờng lối đối ngoại muốn làm bạn với các nƣớc trên thế giới, hợp tác lẫn nhau trên cơ sở hai bên cùng có lợi Việt Nam đã chủ trƣơng xây dựng một nền kinh tế mở, thực hiện đa phƣơng hoá, đa dạng hoá kinh tế đối ngoại, đƣa nền kinh tế Việt Nam từng bƣớc hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, lĩnh vực hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.Việc tăng nhanh xuất khẩu có tác dụng tích cực đến phát triển kinh tế thông qua việc đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở thị trƣờng nƣớc ngoài. Sau 15 năm đổi mới, hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh và các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá đang đứng trƣớc những bỡ ngỡ nhất thời trong việc tìm kiếm hiệu quả kinh doanh do tính phức tạp, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trƣờng thế giới và khu vực.
Do vậy, yêu cầu cấp bách đối với các doanh nghiệp là phải quản lý đƣợc hoạt động kinh doanh của mình. Hạch toán kế toán đã và luôn là công cụ hữu hiệu của quản lý kinh tế. Xuất khẩu hàng hoá là một nghiệp vụ có đặc thù riêng trong quá trình tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp thƣơng mại kinh doanh xuất khẩu. Do vậy, việc phản ánh theo dõi đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ phát sinh và hoàn thiện các khâu trong quá trình xuất khẩu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nhận thức đƣợc yêu cầu đó, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “ Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng hoá tại Tổng công ty rau quả Việt Nam ”. Nội dung chủ yếu của luận văn gồm 3 phần : Phần I: Những vấn đề lý luận chung về kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại kinh doanh xuất nhập khẩu. Phần II: Thực trạng công tác kế toán xuất khẩu hàng hóa tại Tổng công ty rau quả. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phần III: Những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện kế toán nghiệp vụ xuất khẩu hàng hoá tại Tổng công ty rau quả Việt nam.
PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ TRONG DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ. Vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh ngoại thƣơng mà hàng hoá, dịch vụ của quốc gia này đƣợc bán cho quốc gia khác.Thực chất là việc bán hàng sản xuất, gia công trong nƣớc hoặc hàng hoá nhập khẩu của thƣơng nhân Việt nam cho tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài hoặc giữa chính phủ Việt nam với chính phủ nƣớc ngoài thông qua hợp đồng ngoại thƣơng bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hoá.
Xuất khẩu hàng hoá là cách thức tạo ra một nguồn thu ngoại tệ lớn nhất đồng thời tạo nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động nhập khẩu và giúp cho việc ổn định cán cân thanh toán quốc tế. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp với trang thiết bị kỹ thuật nghèo nàn thô sơ, một nƣớc công nghiệp chậm phát triển vì vậy đẩy mạnh xuất khẩu đƣợc xem là một yếu tố quan trọng, kích thích sự tăng trƣởng kinh tế và mở rộng thị trƣờng cho sản xuất trong nƣớc, tạo điều kiện cho các ngành sản xuất trong nƣớc có cơ hội phát triển thuận lợi. Xuất khẩu hàng hoá góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lƣợng sản phẩm. Nhờ vào xuất khẩu nhiều ngành nghề trƣớc đây chỉ đƣợc sản xuất với quy mô nhỏ đã đƣợc mở rộng thành một ngành sản xuất với quy mô lớn.
Thông qua xuất khẩu, chất lƣợng sản phẩm cũng đƣợc nâng cao phù hợp với yêu cầu chất lƣợng, mẫu mã đã ghi trong hợp đồng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm sản xuất trong nƣớc trên thị trƣờng thế giới. Xuất khẩu hàng hoá kéo theo sự phát triển của sản xuất, đây là nguồn thu hút lao động lớn với thu nhập ổn định góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao đời sống dân cƣ. Trong xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia đều mong muốn tạo đƣợc những mối quan hệ tốt đẹp với các quốc gia khác. Do đó, xuất khẩu hàng hoá làm cơ sở cho việc xích lại gần nhau giữa các quốc gia.
Mỗi nƣớc sẽ tiến hành sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng ƣu thế của quốc gia mình và đây là một cơ sở quan trọng để hình 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phân công lao động quốc tế. Nhƣ vậy, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quỗc gia. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá phải đƣợc thực hiện thông qua hợp đồng ngoại thƣơng đƣợc ký kết giữa các chủ thể thuộc các nƣớc khác nhau và trụ sở của các bên nhất thiết phải nằm ở các nƣớc khác nhau trừ trƣờng hợp một bên trong hợp đồng có trụ sở thuộc khu chế xuất 100% vốn nƣớc ngoài.
Do vậy, hàng hoá khi xuất khẩu không nhất thiết phải rời khỏi biên giới Việt Nam mà có thể chuyển vào khu chế xuất 100% vốn nƣớc ngoài hoặc đƣợc chuyển sang một đơn vị kinh doanh khác theo một hợp đồng ngoại thƣơng khác. Ngƣợc lại, không phải mọi hành vi đƣa hàng hoá ra khỏi biên giới Việt Nam đều là hoạt động xuất khẩu hàng hoá, đó là những hàng hoá đƣợc đƣa đi hội chợ, triển lãm ở nƣớc ngoài. Đồng tiền dùng trong quan hệ thanh toán có thể là ngoại tệ với một trong hai nƣớc hoặc là ngoại tệ với cả hai. Thông thƣờng ngƣời ta dùng ngoại tệ mạnh để thanh toán nhƣ: USD, DEM, FRF, EURO, JPY vv.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá không chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp lý trong nƣớc mà còn phụ thuộc vào các quy tắc và thông lệ quốc tế nhƣ các quy trình của một phƣơng thức giao dịch, trị giá hàng hoá xuất khẩu thƣờng đƣợc căn cứ vào giá của mặt hàng đó ở sở giao dịch, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đƣợc xác định rõ trong từng điều kiện cơ sở giao hàng đƣợc quy định cụ thể trong Incoterms 2000. Trong hoạt động xuất khẩu hàng hoá thời điểm ký kết hợp đồng và thời điểm thanh toán thƣờng cách nhau khá dài, việc xác định đúng thời điểm xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi chép doanh thu hàng xuất khẩu giải quyết các tranh chấp khiếu nại, thƣởng phạt trong buôn bán ngoại thƣơng và thanh toán. Mỗi đối tƣợng hàng hoá xuất khẩu khác nhau sẽ mang những đặc điểm khác nhau do đó ta phải tìm hiểu những đối tƣợng của hoạt động xuất khẩu. Đối tượng của hoạt động xuất khẩu.
Ngày nay hoạt động xuất khẩu đƣợc thực hiện với hầu hết các mặt hàng. Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia khác nhau thì đối tƣợng này là khác nhau tuỳ thuộc vào lợi thế so sánh của mỗi nƣớc, những hàng hoá nào mà giá trị thực hiện trên thị trƣờng thế giới lớn hơn giá trị thực hiện trên thị trƣờng nội địa thì đó là đối tƣợng của hoạt động xuất khẩu. Đối tƣợng xuất khẩu là các loại hàng hoá phù hợp với ngành nghề ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hàng hoá xuất khẩu là những mặt hàng thuộc thế mạnh trong nƣớc Việt Nam với nền nông nghiệp lâu đời đã tạo cho chúng ta có thế mạnh về các mặt hàng nông sản, lâm sản, hải sản và một số loại cây công nghiệp khác.
Bên cạnh 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ với các làng nghề truyền thống nhƣ gốm sứ, mây tre đan vv. là một trong những thế mạnh và tiềm năng của nƣớc ta. Tuy nhiên, do sự chậm phát triển về khoa hoạ kỹ thuật, các sản phẩm sản xuất ra thƣờng có chất lƣợng không cao và giá thành sản phẩm lớn. Do vậy, Nhà nƣớc ta đã đề ra chủ trƣơng “xuất khẩu để nhập khẩu” với nội dung xuất khẩu các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủ công mỹ nghệ và nhập khẩu các máy móc thiết bị, khoa học kỹ thuật - công nghệ.
Đặc điểm của hàng hoá xuất khẩu. Hàng hoá xuất khẩu bao gồm nhiều loại trong đó chủ yếu là những mặt hàng thuộc thế mạnh trong nƣớc (rau quả tƣơi, hàng mây tre đan, thủ công mỹ nghệ. Hàng hoá xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn về chất lƣợng, mẫu mã và hợp thị hiếu. Hàng hoá đƣợc coi là xuất khẩu trong những trƣờng hợp : + Hàng xuất bán cho các thƣơng nhân nƣớc ngoài theo hợp đồng đã ký kết.
+ Hàng gửi đi triển lãm hội chợ nƣớc ngoài sau đó bán thu bằng ngoại tệ. + Hàng bán cho du khách nƣớc ngoài, cho Việt kiều thu bằng ngoại tệ. + Các dịch vụ sửa chữa, bảo hiểm tàu biển, máy bay cho nƣớc ngoài thanh toán bằng ngoại tệ. + Hàng viện trợ cho nƣớc ngoài thông qua các hiệp định, nghị định thƣ do nhà nƣớc ký kết với nƣớc ngoài nhƣng đƣợc thực hiện qua doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
+ Nguyên vật liệu, vật tƣ cung cấp cho các công trình thiết bị toàn bộ theo yêu cầu nƣớc ngoài bán công trình thiết bị cho nƣớc ta thanh toán bằng ngoại tệ. Các hình thức xuất khẩu. + Xuất khẩu theo nghị định thƣ: doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá theo nghị định thƣ ký giữa cơ quan cấp trên với chính phủ một nƣớc khác. + Xuất khẩu trực tiếp: đƣợc sử dụng khi doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có đủ điều kiện về cơ sở vật chất cũng nhƣ có năng lực và trình độ chuyên môn để tổ chức đàm phán, ký kết, thực hiện các hợp đồng xuất khẩu, am hiểu đối tác, am hiểu thị trƣờng cũng nhƣ mặt hàng xuất nhập khẩu.
Các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các quan hệ giao dịch, ký kết hợp đồng, tổ chức xuất khẩu hàng hoá và thu tiền hàng.