Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán tài chính tại đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng. Tong quan tài liệu nghiên cứu Kế toán tài chính là công cụ rất quan trọng và không thé thiếu được trong hoạt động kinh tế, tài chính của tất cả các tổ chức kinh tế, sự nghiệp và quản lý điều hành của Nhà nước.
Trong lĩnh vực sự nghiệp công lập, công tác kế toán tài chính chưa được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Trong phạm vi Đại học Đà Nẵng, một số nghiên cứu liên quan đến công tác này như: ~ Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Đà Nẵng của Trần Thị Thanh Định (2011) với đề tài: "Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Trường Cao Đẳng Thương mại”. Luận văn này chủ yếu đề cập đến việc hoàn thiện tổ chức kế toán với một số nội dung còn khuyến khuyết về: Hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán và cách ghi chép; hệ thống sé sách kế toán, báo cáo tài chính; tăng cường ứng dụng CNTT. Ngoài ra luận văn còn có một số kiến nghị đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý về một số van dé như: sửa đôi chế độ kế toán phải kịp thời với tình hình thực tế, phân loại tài khoản trong hệ thống tài khoản cho phù hợp liên quan đến nhóm tài khoản loại 3-Thanh toán.
- Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng của Đoàn Nguyên Hồng (2010) với đề tài: "loàn thiện công tác kế toán tài chính tại bệnh viện hữu nghị Uiệt Nam-Cuba Đẳng Hới". Luận văn này về cơ bản đã phân tích đánh giá một cách tổng hợp về công tác kế toán cũng như công tác quản lý tài chính tại một đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể là Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới thuộc lĩnh vực sự nghiệp y tế. Tuy nhiên, phần mềm kế toán ứng dụng được qui định bởi Bộ tài chính nhưng không thấy đề cập đến việc vận dụng một cách cu thé như thé nào để có góc nhìn về một phần mềm kế toán được sử dụng trong một đơn vị sự nghiệp công lập. Mỗi luận văn như đã nêu, ở một khía cạnh khác nhau, một mặt nào đó đã phản ánh cơ bản được ngành, lĩnh vực và đơn vị cụ thể mình đã nghiên cứu.
Tuy nhiên, công tác kế toán tài chính là một nội dung khá rộng, không chỉ riêng là hoạt động của phòng KH-TC mà liên quan đến các phòng chức năng khác nhau có liên quan, từ công tác quản lý tài chính đến công tác ứng dụng CNTT mà cụ thể là phần mềm kế toán. Vì vậy, theo tác giả tìm hiểu về công tác kế toán tài chính của một ngành, lĩnh vực và đơn vị cụ thể nào đó cần phải đánh giá được một cách toàn diện và chỉ tiết mới phản ảnh được hết yêu cầu, nhiệm vụ của công tác này. Nội dung dé cập đến công tác kế toán tài chính đưới góc độ chung cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thể tham khảo một cách có chọn lọc và tổng hợp từ các luận văn như đã nêu đẻ áp dụng cụ thể vào đơn vị mình nghiên cứu. Trong thực tế, đối với mỗi ngành, mỗi lĩnh vực đều có tính đặc thù khác nhau, vì vậy công tác kế toán tài chính sẽ có những nét riêng biệt.
Đến thời điểm hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng. Gắn với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra là nghiên cứu Thực trạng công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phó Đà Nẵng, luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở pháp lý là các qui định của Nhà nước về công tác kế toán tài chính như Luật NSNN, Luật kế toán, Chế độ kế toán HCSN, Chế độ kế toán BHXH. và các giáo trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan. Để hệ thống hóa được cơ sở lý luận của các vấn đề thực tiễn nghiên cứu, xác định được tài liệu cần lựa chọn, cũng như chọn lọc được những nội dung cần thiết từ tài liệu đã được chọn, tác giả đã chia hoạt động công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng thành những phân riêng biệt như: tô chức chứng từ kế toán, tô chức tài khoản kế toán, tô chức số kế toán và tô chức lập báo cáo tài chính; các nghiệp vụ có liên quan đến công tác kế toán tài chính, ứng dụng phần mềm kế toán.
Sau đó, tiến hành đi vào nghiên cứu chi tiết đối với từng phần, đối chiều với cơ sở lý thuyết dé thực hiện cho mục tiêu nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, nguôn tài liệu sử dụng luôn được xác định là phải có tầm tham khảo đủ rộng để có thể bao quát tổng thể phạm vi của đề tài; mức độ tham khảo tài liệu phải có chiều sâu, nội dung phải đảm bảo đầy đủ chỉ tiết đến từng vấn đề cần nghiên cứu, đáp ứng được với yêu cầu của cấp độ nghiên cứu và nhằm giải quyết được các vấn đề đã đặt ra; nội dung cơ sở lý luận từ các nguồn tài liệu được chọn lọc chỉ đề cập đến những vấn đề có liên quan đến việc nghiên cứu; thông tin sử dụng để đánh giá các vấn đề có tính khách quan, luôn kịp thời, tránh trường hợp bị lạc hậu so với qui định, thông tin chuyên ngành về BHXH. Công tác kế toán tài chính tại mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong các đơn vị sự nghiệp công lập đều có những hoạt động mang tính đặc thù: Đặc thù về hoạt động tài chính, cung cắp dịch vụ công, mối liên hệ giữa các phòng chức năng, quan điểm của Lãnh đạo về công tác kế toán tải chính, vấn đẻ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán., những vấn đề này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế toán tài chính tại đơn vị, cũng như khả năng xảy ra những rủi ro trong hoạt động kế toán tài chính. Vì vậy, nguồn tài liệu nghiên cứu cũng phải đề cập để hiểu rõ các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và ngành BHXH nói riêng để có cái nhìn tổng quát cũng như thấy được những nét khác biệt của ngành nghiên cứu.
Để tiếp cận với các vấn đề khác biệt của ngành BHXH, tác giả đã thông qua việc thu thập và nghiên cứu chế độ kế toán BHXH, các văn bản liên quan đến hoạt động tài chính của ngành BHXH, của BHXH thành phố Đà Nẵng, kết hợp với việc phỏng vấn những người có trách nhiệm của đơn vị, tìm hiểu mối liên hệ giữa các phòng chức năng, tìm hiểu các phương thức quản lý tài chính liên quan đến hoạt động kế toán tài chính, đặc biệt chú trọng đến những hoạt động kế toán tài chính có tính chất rủi ro cao, tìm hiểu việc sử dụng phần mềm kế toán tại đơn vị. Nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh Đáng và Nhà nước đang đây mạnh xã hội hóa và đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có cải cách cơ chế quản lý tài chính. Đối với ngành BHXH, ngày 20/01/2011 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 04/2011/QĐ- TTg thay thế cho Quyết định số 41/2007/QĐ-TTg ngày 29/3/2007 về quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam. Quyết định này nhằm mục đích thực hiện tốt chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT, BHTN cũng như tô chức thực hiện nhiệm vụ này đảm bảo theo qui định của pháp luật.
Đồng thời đổi mới cơ chế quản lý tài chính và biên chế đối với hoạt động của BHXH Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí để tạo điều kiện đầu tư phát triển; tăng thu nhập, cải thiện đời song CBCCVC va gan trách nhiệm với lợi ich của CBCCVC trong hoạt động nghiệp vụ; trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cho thủ trưởng đơn vị trong sử dụng biên chế và kinh phí quản lý được giao nhằm thúc đây việc sắp xếp, tố chức bộ máy tinh gọn, nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện minh bạch và công khai tài chính theo qui định của pháp luật. Với một số hạn chế nỗi lên trong công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng cần khắc phục, cùng với việc phấn đấu thực hiện tốt các mục tiêu đặt ra trong cơ chế quản lý tài chính mới của ngành BHXH mà Thủ tướng chính phủ đã ban hành, nghiên cứu nhằm /Toàn thiện công tác kế toán tài chính tại BHXH thành phố Đà Nẵng có thê nói là nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay tại BHXH thành phô Đà Nẵng. CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TAC KE TOAN TAI CHINH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là các tỗ chức được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và Tổ chức chính trị - xã hội thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thé duc thé thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.
Ngoài các đơn vị sự nghiệp công lập, Nhà nước còn khuyến khích phát triển các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực xã hội hóa theo quy định của Nhà nước như: Giáo dục - đào tạo, dạy nghề; y tế; văn hoá; thể dục thẻ thao; môi trường; xã hội; dân số; gia đình; bảo vệ chăm sóc trẻ em. Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập do các tô chức xã hội, tô chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân, nhóm cá nhân hoặc công đồng dân cư thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tự bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài NSNN và hoạt động theo quy định của pháp luật.