lời mở đầu và kết luận nội dung chính của đề tài gồm 3 chương: Chƣơng I : Cơ sở lý luận chung về hạch toán kế toán nguyên vật liệu tại doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng II : Thực trạng công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần Mỹ Hảo. Chƣơng III : Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại công ty cổ phần Mỹ Hảo. Do thời gian thực tập có hạn và trình độ kiến thức chưa thực sự sâu rộng nên khóa luận tốt nghiệp khó tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô giáo để khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: QT1307K Page 2 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHƢƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẠCH TOÁN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Những vấn đề chung về kế toán NVL trong doanh nghiệp sản xuất.1 Khái niệm và vị trí của NVL trong doanh nghiệp sản xuất Khái niệm: Trong doanh nghiệp sản xuất vật liệu là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể sản phẩm, là tài sản dự trữ ngắn hạn của doanh nghiệp. Vật liệu là đối tượng lao động thể hiện dưới dạng vật hóa như sắt, thép trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo, bông trong doanh nghiệp dệt, con giống trong doanh nghiệp chăn nuôi… dưới sự tác động của con người. Vị trí của nguyên vật liệu trong sản xuất: Trong quá trình sản xuất, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số chi phí chế tạo ra sản phẩm, do đó vật liệu không chỉ quyết định đến mặt số lượng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm tạo ra.
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, việc giảm chi phí nguyên vật liệu, giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất trong mỗi đơn vị sản phẩm là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của quá trình sản xuất kinh doanh. Điều đó sẽ làm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời với một lượng chi phí vật liệu không đổi có thể làm ra được nhiều sản phẩm, tức là hiệu quả đồng vốn được nâng cao.2 Đặc điểm của nguyên vật liệu Nguyên vật liệu có các đặc điểm sau: + Khác với tư liệu lao động, trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định. Chu kỳ sản xuất là khoảng thời gian từ khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất cho đến khi Sinh viên: Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: QT1307K Page 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP chế tạo xong, kiểm tra và nhập kho thành phẩm. Chu kỳ sản xuất có thể tính cho từng chi tiết, bộ phận sản phẩm hay sản phẩm hoàn chỉnh.
+ Nguyên vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của sức lao động, chúng bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất sản phẩm. + Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Toàn bộ giá trị nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất được phản ánh vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, cuối kỳ được kết chuyển để tính giá thành cho sản phẩm tạo ra. + Nguyên vật liệu được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như mua ngoài, tự sản xuất, nhận vốn góp liên doanh, vốn góp của các thành viên tham gia công ty,.
trong đó chủ yếu là do doanh nghiệp mua ngoài.3 Vai trò của nguyên vật liệu Nguyên vật liệu là một yếu tố trực tiếp cấu thành nên thực thể sản phẩm. Do vậy chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu được đảm bảo đầy đủ về số lượng, chất lượng, chủng loại, có tác động rất lớn đến chất lượng sản phẩm. Vì vậy đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu sản xuất còn là một biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nguyên vật liệu liên quan trực tiếp tới kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó cung ứng nguyên vật liệu kịp thời với giá cả hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường. Xét cả về mặt hiện vật lẫn mặt giá trị, nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ quá trình sản xuất nào, là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động. Chính vì vậy quản lý nguyên vật liệu chính là quản lý vốn sản xuất kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: QT1307K Page 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.4 Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu NVL là tài sản dự trữ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp. Để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường, các doanh nghiệp sản xuất phải thường xuyên mua NVL và xuất dùng cho sản xuất. Mỗi loại sản phẩm được sản xuất từ nhiều loại vật liệu khác nhau, được nhập từ nhiều nguồn và giá cả của vật liệu thường xuyên biến động trên thị trường. Bởi vậy để tăng cường công tác quản lý, NVL phải được theo dõi chặt chẽ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ đến khâu sử dụng.
+ Trong khâu thu mua: Đòi hỏi phải quản lý về số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại, giá mua, chi phí thu mua và cả tiến độ thời gian thu mua phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất tạo sản phẩm và các nhu cầu khác của doanh nghiệp. + Trong khâu bảo quản dự trữ: Doanh nghiệp phải tổ chức tốt kho tàng bến bãi, thực hiện đúng chế độ bảo quản, xác định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại nguyên vật liệu để giảm bớt hư hỏng,hao hụt mất mát, đảm bảo an toàn. Giữ được chất lượng của NVL sao cho NVL luôn cung ứng kịp thời cho sản xuất với chi phí tồn kho thấp nhất. Đồng thời cần có những cảnh báo kịp thời khi có những dấu hiệu báo động, trong trường hợp NVL vượt quá định mức tối đa, tối thiểu để có những điều chỉnh hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Trong khâu sử dụng: Đòi hỏi phải theo dõi tình hình sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu trên cơ sở xác định mức tiêu hao, dự toán chi phí, tiến độ sản xuất nhằm giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Vì vậy trong khâu này cần tổ chức tốt việc ghi chép, phản ánh tình hình xuất dùng và sử dụng vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, quản lý nguyên vật liệu là một trong những nội dung quan trọng và cần thiết của công tác quản lý sản xuất, quản lý giá thành sản phẩm. Sinh viên: Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: QT1307K Page 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 1.5 Nhiệm vụ kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất Nếu như công tác hạch toán nói chung là công cụ của công tác quản lý kinh tế tài chính thì hạch toán kế toán NVL là công cụ đắc lực của công tác quản lý NVL.
Kế toán NVL có đầy đủ, chính xác, kịp thời hay không, có ảnh hưởng lớn đến tình hình quản lý vật liệu của doanh nghiệp. Để thực hiện chức năng của mình trong phạm vi quản lý vật liệu, theo điều lệ tổ chức công tác kế toán nhà nước, kế toán vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất có các nhiệm vụ : - Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, bảo quản tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu, tính giá thực tế của vật liệu đã mua và nập kho xí nghệp, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua NVL về mặt số lượng, chủng loại, giá cả, thời hạn,…nhằm đảm bảo cung cấp, đầy đủ, kịp thời đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp. - Vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách và báo cáo kế toán phù hợp, phục vụ cho việc thu nhận hệ thống hóa, tổng hợp và cung cấp thông tin về tình hình hiện có và sự biến động. - Kiểm tra, giám sát việc bằng đồng tiền kế hoạch thu mua, sử dụng vật tư cho sản xuất kinh doanh.
Qua đó phát hiện và ngăn chặn các hành vi tham ô, lãng phí vật tư, và hành vi vi phạm chế độ kế toán tài chính.6 Phân loại nguyên vật liệu Trong doanh nghiệp sản xuất để tiến hành sản xuất phải sử dụng nhiều loại NVL khác nhau, mỗi loại vật liệu có vai trò và công dụng tính năng lý hóa khác nhau đối với quá trình sản xuất. Vì vậy để quản lý tốt cần phải tiến hành phân loại nguyên vật liệu. Phân loại vật liệu dựa theo những tiêu thức sau: Căn cứ vào công dụng của NVL trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chính trong quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở vật chất chủ yếu để cấu thành lên thực thể của sản phẩm như bông trong nhà máy sợi, sắt, thép trong doanh nghiệp chế tạo máy… Sinh viên: Nguyễn Thị Hải Yến Lớp: QT1307K Page 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP hay với các sản phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục sản xuất sản phẩm.
- Nguyên vật liệu phụ: là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm. Vật liệu phụ cũng được sử dụng để giúp cho máy móc, thiết bị và các công cụ lao động hoạt động bình thường. Vật liệu phụ còn được sử dụng cho nhu cầu kỹ thuật và quản lý (ví dụ: dầu nhờn, keo, hồ, ….) - Nhiên liệu: Là những vật liệu dùng để cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh như xăng dầu, hơi đốt, than… - Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải,…. - Vật liệu và thiết bị XDCB: Bao gồm các vật liệu và thiết bị mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích đầu tư cho xây dựng cơ bản.