phần mở đầu và kết luận thì bài luận văn của em có kết cấu gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp. Chƣơng II: Thực trạng về công tác kế toán nguyên vật liệu tại công ty Cổ Phần Hƣng Phát Việt Nam. Chƣơng III: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại công ty Cổ Phần Hƣng Phát Việt Nam. Do thời gian và trình độ có hạn nên bài luận văn của em không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo và các cô chú anh chị tại công ty Cổ Phần Hƣng Phát Việt Nam để bài luận văn của em đƣợc hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn cô Bùi Thị Chung- Giảng viên trƣờng cao đẳng Cộng Đồng Hải Phòng, các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh trƣờng Đại học Dân Lập Hải Phòng và các cô chú, anh chị tại công ty Cổ Phần Hƣng Phát Việt Nam đã giúp em hoàn thành bài luận văn này. Hải Phòng, ngày 26tháng 06 năm 2012 Sinh viên thực hiện Đỗ Thị Mến Sinh viên:Đỗ Thị Mến 11 Lớp:QT 1205K Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.Những vấn đề chung về nguyên vật liệu trong Doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu *Các khái niệm -Hàng tồn kho: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 thì hàng tồn kho là: + Tài sản đƣợc giữ để bán trong kỳ sản xuất, kỳ kinh doanh bình thƣờng, đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang, nguyên liệu, công cụ dụng cụ dùng để phục vụ cho việc sản xuất, kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụ. +Hàng tồn kho thƣờng chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
-Nguyên vật liệu: là một bộ phận của hàng tồn kho, đó là những đối tƣợng lao động do doanh nghiệp mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh. *Đặc điểm của nguyên vật liệu: Một trong những điều kiện cần thiết để tiến hành sản xuất là nguyên vật liệu. Vật liệu chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định; trong quá trình sản xuất, vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hoặc bị biến đổi hình thái vật chất ban đầu để cấu thành nên thực thể sản phẩm, giá trị của vật liệu đƣợc chuyển dịch toàn bộ vào giá trị sản phẩm. Nguyên vật liệu đƣợc thể hiện dƣới dạng vật hóa nhƣ: Sắt, thép trong doanh nghiệp chế tạo cơ khí, sợi trong công nghiệp dệt, da trong công nghiệp đóng giày, vải trong công nghiệp may mặc… Nguyên vật liệu thƣờng phong phú, đa dạng về chủng loại, công dụng, hình thái vật chất…Tỷ trọng của chúng trong giá trị sản phẩm, dịch vụ tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp.
Thông thƣờng với các doanh nghiệp sản xuất thì nguyên vật liệu thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm. Sinh viên:Đỗ Thị Mến 12 Lớp:QT 1205K Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp 1.Vai trò nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất. Đối với hầu hết các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng thì nguyên vật liệu là đối tƣợng lao động không thể thiếu, nó giữ vai trò quyết định cho quá trình sản xuất sản phẩm. -Về mặt chi phí: Nguyên vật liệu chiếm khoảng 60% - 70% trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh.
Mỗi sự biến động về chi phí nguyên vật liệu đều ảnh hƣởng đến giá thành sản phẩm. Vì vậy, nó là yếu tố luôn đƣợc lãnh đạo các doanh nghiệp quan tâm khi doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận. -Về mặt vốn: nguyên vật liệu là thành phần quan trọng trong vốn lƣu động của doanh nghiệp. Việc tổ chức, sử dụng tốt nguyên vật liệu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động.
Từ những vai trò nêu trên đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức công tác hạch toán nguyên vật liệu đầy đủ, kịp thời và phải có những phƣơng án dự trữ, bảo quản nguyên vật liệu hợp lý giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ hạch toán nguyên vật liệu *Yêu cầu quản lý Xuất phát từ đặc điểm của nguyên vật liệu nên công tác quản lý nguyên vật liệu luôn phải đƣợc đặt lên hàng đầu. Có làm tốt đƣợc công tác này thì các doanh nghiệp mới có thể đạt đƣợc các mục tiêu nhƣ: tiết kiệm chi phí, nâng cao lợi nhuận mà chất lƣợng sản phẩm vẫn đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngƣời tiêu dùng. Để đảm bảo cho công tác hạch toán NVL đƣợc chính xác thì đòi hỏi các nhà quản trị phải quản lý chặt chẽ từ khâu thu mua, bảo quản tới khâu dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu một cách hiệu quả.
- Tại khâu thu mua: Phải quản lý tốt về số lƣợng, chất lƣợng, quy cách, chủng loại, giá mua, chi phí mua hàng đồng thời phải bảo đảm kế hoạch mua nguyên vật liệu theo đúng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Sinh viên:Đỗ Thị Mến 13 Lớp:QT 1205K Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp - Tại khâu bảo quản: Phải tổ chức tốt kho hàng, bến bãi, thực hiện đúng cách thức bảo quản đối với từng loại vật liệu; tránh hƣ hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo chất lƣợng cho nguyên vật liệu. - Tại khâu sử dụng: Phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả NVL trên cơ sở các định mức, dự toán chi phí đã đƣợc xây dựng, phấn đấu hạ mức tiêu hao nguyên vật liệu trong sản xuất tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Tại khâu dự trữ: Đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định đƣợc mức dự trữ tối đa, tối thiểu cho từng loại nguyên vật liệu, đảm bảo quá trình sản xuất đƣợc tiến hành liên tục, đồng thời tránh ứ đọng vốn do dự trữ quá lớn.
- Tại khâu giám sát: Tăng cƣờng công tác giám sát, kiểm tra việc bảo quản, sử dụng cũng nhƣ việc tuân thủ các quy định về mức tiêu hao NVL trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tóm lại, việc quản lý nguyên vật liệu ở tất cả các khâu là những nội dung quan trọng trong công tác quản lý của các doanh nghiệp ở bất kỳ thời điểm nào. *Nhiệm vụ hạch toán nguyên vật liệu Để đáp ứng yêu cầu quản lý thì công tác hạch toán nguyên vật liệu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: -Tiến hành ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác, kịp thời tình hình hiện có, sự biến động của các loại nguyên vật liệu cả về mặt giá trị và hiện vật. -Vận dụng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo kế toán phù hợp thuận tiện cho việc thu nhận, hệ thống hóa, tổng hợp, cung cấp thông tin về tình hình hiện có và sự biến động của nguyên vật liệu cả về mặt số lƣợng và giá trị.
-Tăng cƣờng kiểm tra giám sát kế hoạch thu mua, sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất kinh doanh, qua đó phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi tham ô, lãng phí nguyên vật liệu và hành vi vi phạm chế độ kế toán tài chính. -Thƣờng xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy định về mức dự trữ vật liệu, phát hiện và có biện pháp xử lý đối với các vật liệu ứ đọng, kém phẩm chất, chƣa cần dùng để thu hồi vốn nhanh chóng, hạn chế các thiệt hại cho doanh nghiệp. Sinh viên:Đỗ Thị Mến 14 Lớp:QT 1205K Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp 1. Phân loại nguyên vật liệu Phân loại nguyên vật liệu là căn cứ vào vai trò và các tiêu thức nhất định để chia nguyên vật liệu sử dụng trong doanh nghiệp thành từng loại, từng thứ, từng nhóm… nhất định.
Căn cứ vào vai trò, công dụng của nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu đƣợc chia thành: -Nguyên vật liệu chính: Là những nguyên liệu, vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm. Nguyên vật liệu chính bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục cho quá trình sản xuất, chế tạo ra thành phẩm. -Nguyên liệu, vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất không cấu thành nên thực thể chính của sản phẩm nhƣng có thể kết hợp với vật liệu chính giúp tăng thêm chất lƣợng của sản phẩm. -Nhiên liệu: là những loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lƣợng tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thƣờng.
Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn, thể lỏng hoặc thể khí. -Phụ tùng thay thế: là các loại phụ tùng, chi tiết đƣợc sử dụng để thay thế, sửa chữa những máy móc, thiết bị, phƣơng tiện vận tải truyền dẫn… -Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: gồm những loại vật liệu, thiết bị, công cụ, vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản… -Phế liệu: Là những phần vật chất mà doanh nghiệp có thể thu hồi đƣợc( bên cạnh các loại thành phẩm) trong quá trình sản xuất kinh doanh. -Vật liệu khác: Là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp. Cách phân loại này là cơ sở để xác định mức tiêu hao, định mức dự trữ cho từng loại, từng thứ nguyên vật liệu đồng thời cũng là cơ sở để tổ chức hạch toán chi tiết nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
Sinh viên:Đỗ Thị Mến 15 Lớp:QT 1205K Trường Đại Học Dân Lập Hải Phòng Luận văn tốt nghiệp Căn cứ vào nguồn hình thành: nguyên vật liệu đƣợc chia thành -Nguyên vật liệu mua ngoài: là loại vật liệu doanh nghiệp không tự sản xuất mà do mua ngoài từ thị trƣờng trong nƣớc hoặc nhập khẩu. -Nguyên vật liệu tự chế: do doanh nghiệp tự tạo ra để phục vụ cho nhu cầu sản xuất. -Vật liệu khác: là vật liệu đƣợc hình thành do cấp phát, biếu tặng, góp vốn liên doanh… Cách phân loại này làm căn cứ cho việc lập kế hoạch thu mua và kế hoạch sản xuất, là cơ sở để xác định trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu nhập kho. Căn cứ vào mục đích sử dụng: nguyên vật liệu đƣợc chia thành -Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh +Nguyên vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
+Nguyên vật liệu dùng cho quản lý ở các phân xƣởng, dùng cho bộ phận giao bán hàng, bộ phận quản lý doanh nghiệp. -Nguyên vật liệu dùng cho nhu cầu khác: +Nhƣợng bán +Đem góp vốn liên doanh +Đem biếu tặng 1.5 Đánh giá nguyên vật liệu 1.