Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện trả lương tại Công ty Cổ phần Công nghệ và truyền thông AdsBNC Việt Nam”. Chương 2: Một số lý luận cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng trả lương tại Công ty Cổ phần Công nghệ và truyền thông AdsBNC Việt Nam. Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện trả lương tại Công ty Cổ phần Công nghệ và truyền thông AdsBNC Việt Nam.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp. Khái niệm tiền lương. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, dù gọi tên gọi nào, cách tính nào mà được trả tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã là hay sẽ làm” Ở Việt Nam, mỗi thời kỳ có một khái niệm khác nhau về tiền lương. Theo quan điểm cũ (trong nền kinh tế bao cấp) tiền lương là một bộ phận thu nhập quốc dân được phân bố cho NLĐ căn cứ vào số lượng, chất lượng của mỗi người.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương vừa được trả bằng tiền, vừa được trả bằng hiện vật và những quy định về tiền lương mang nặng tính chất phân phối, cấp phát. Do đó, không khuyến khích tinh thần sáng tạo, tính chủ động, nâng cao trình độ chuyên môn, không gắn với lợi ích, hiệu quả mà họ sáng tạo ra vì tiền lương không đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động. Đến năm 1993, Đảng và Nhà nước có những quy chế, quy định mới trong chính sách tiền lương, đưa ra những quy định tiến bộ hơn về tiền lương. Lúc này khái niệm về tiền lương được định nghĩa như sau: “Tiền lương là một hình thức trả công lao động.
Để đo lường hao phí lao động trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm người ta chỉ có thể sử dụng thước đo giá trị thông qua tiền tệ, vì vậy khi trả công cho NLĐ người ta sử dụng hình thức tiền lương”. Ngoài ra còn có thể hiểu “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường”. Theo điều 90 của Bộ luật lao động năm 2012 “Tiền lương là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo thỏa thuận công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.
Mức lương của NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định”. Theo bài giảng Trả công lao động Bộ môn Kinh tế Doanh nghiệp, Đại học Thương mại, tiền lương được định nghĩa như sau: “Tiền lương là giá cả của lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động mà người lao động tạo ra tính đến quan hệ cung cầu về lao động trên thị trường và tuân thủ pháp luật của Nhà nước”. [8,Tr 2] Như vậy, nên hiểu tiền lương theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với mức thu nhập của NLĐ nhận được từ doanh nghiệp, bao gồm tất cả các khoản thu nhập và phúc lợi bằng tiền, vật chất mà NLĐ nhận được trên cơ sở thỏa thuận với NSDLĐ. Tiền lương có thể được xác định theo ngày, tuần, tháng, quý, năm hoặc theo đầu công việc, theo thành 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tiền lương do vậy có thể bao gồm cả tiền lương cơ bản, tiền lương năng suất, thưởng và một số khoản phụ cấp khác. Khái niệm trả lương. Tiền lương được hiểu là số tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động của họ thanh toán lại tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã tiêu hao trong quá trình tạo ra của cải cho xã hội. Công tác tiền lương là toàn bộ những hoạt động liên quan đến việc hình thành, quản lý và phân phối tiền lương.
Các hoạt động đó được thực hiện trên cơ sở các quyết định ban hành của Nhà nước, các ngành có liên quan. Vì vậy doanh nghiệp tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mình để thực hiện trả lương hiệu quả nhất. Vì vậy, “ Trả lương là quá trình tổ chức, DN (NSDLĐ) thực hiện việc chi trả tiền lương cho NLĐ theo thỏa thuận giữa hai bên dựa trên cơ sở quy định của pháp luật” 2. Tổng quỹ lương.
Theo Bài giảng Trả công lao động, Đại học thương mại: “Quỹ lương của một tổ chức (doanh nghiệp) là tổng số tiền mà TC/DN sử dụng để trả lương cho NLĐ làm việc trong TC/DN trong một thời kỳ nhất định”. - Tiền lương trả cho NLĐ sản xuất ra sản phẩm hỏng, trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học. - Các loại phụ cấp và trợ cấp: tiền ăn trưa, tiền xăng xe, nhà ở, điện thoại… 2. Đơn giá tiền lương.
Theo Bài giảng Trả công lao động, Trường Đại học Thương mại thì: “Đơn giá tiền lương được xác định trên cơ sở định mức lao động trung bình. Đơn giá tiền lương có thể lớn hơn hoặc bằng mức lương tối thiểu của DN và có thể được thay đổi theo năm kinh doanh phụ thuộc vào tổng quỹ lương của năm; kết quả hoạt động kinh doanh và được điều chỉnh cho phù hợp với từng DN”.[ 8,Tr 53] Để tính đơn giá tiền lương một cách đúng đắn và công bằng thì phải căn cứ vào hai mặt số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động thể hiện qua mức hao phí thời gian lao động dùng để sản xuất ra sản phẩm trong một khoảng thời gian theo lịch nào đó, ví dụ số giờ lao động trong ngày, số ngày lao động trong tuần hay trong tháng. Đơn vị số lượng lao động chính là số thời gian lao động.
Chất lượng lao động là trình độ lành nghề của người lao động được sử dụng vào quá trình lao động. Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ giáo dục đào tạo, kinh nghiệm kỹ năng. Chất lượng lao động càng cao, thì năng suất lao động và hiệu quả làm việc cũng càng cao. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vậy, “Đơn giá tiền lương là mức tiền lương dùng để trả cho người lao động khi họ hoàn thành một đơn vị sản phẩm hay công việc”.
Nội dung của trả lương. Vai trò của trả lương. Về mặt kinh tế: trả lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định phát triển kinh tế gia đình, NLĐ dùng tiền lương để trang trải các chi phí trong gia đình (ăn, ở, đi lại, vui chơi.) phần còn lại để tích lũy. Về mặt chính trị xã hội: việc trả lương không chỉ ảnh hưởng tới tâm tư nguyện vọng của NLĐ đối với DN mà còn đối với xã hội.
Nếu tiền lương cao, NLĐ có công ăn việc làm ổn định, cuộc sống ổn định hơn, ngược lại họ không thiết tha với công việc, cuộc sống không ổn định, bấp bênh. Vai trò khuyến khích của tiền lương: công tác trả lương hợp lý tạo ra niềm say mê nghề nghiệp, khuyến khích NLĐ không ngừng học tập, rèn luyện về kỹ năng, phẩm chất trong lao động SX, là công cụ đòn bẩy tạo động lực làm việc cho NLĐ. Vai trò DN của trả lương: Thông qua việc trả lương, DN kiểm tra theo dõi, giám sát NLĐ làm việc theo mục tiêu của DN, đảm bảo tiền lương chi ra đem lại kết quả và hiệu quả ra sao. Việc trả lương có sự ảnh hưởng đến sự công bằng của tổ chức, bởi NLĐ có thói quen so sánh những gì họ nhận được với những đóng góp của họ.
Trả công cũng liên quan trực tiếp tới văn hóa của DN bởi nó là công cụ tôn vinh những giá trị của DN. Yêu cầu của trả lương.TS Phạm Công Đoàn (2012) – Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp thương mại, để đảm bảo thực hiện đúng vai trò thì công tác trả lương phải đảm bảo các yêu cầu sau: Trả lương phải đảm bảo sự công bằng, công việc ngang nhau thì tiền lương ngang nhau. Đây được coi là yêu cầu quan trọng nhất trong chính sách tiền lương. Sự công bằng không chỉ với bên trong mà còn bên ngoài.
Mức lương chi trả cho NLĐ phải dựa trên kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao, chất lượng và thời gian thực hiện công việc. Tiền lương chi trả cho NLĐ làm công việc có điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, làm thêm phải cao hơn NLĐ làm việc trong điều kiện lao động bình thường, với công việc như nhau thì lương phải bằng nhau. Việc trả lương phải đảm bảo dựa trên sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ, được ghi trong HĐLĐ, địa điểm và thời gian chi trả lương phải được quy định rõ ràng, đồng thời có quy định các khoản khấu trừ lương theo Luật pháp, không được cúp lương, xử phạt vi phạm kỷ luật bằng cách trừ lương. Việc trả lương công khai, minh bạch: việc trả lương phải được tiến hành công khai, mọi nhân viên đều được biết, việc tính lương phải được thực hiện trên cơ sở của Pháp luật, công ty.
Việc trả lương phải phân loại được nhân viên, tránh những sai sót trong tính thuế thu nhập cá nhân, xây dựng một chính sách lương rõ ràng bằng văn bản và được thông bảo tới NLĐ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc trả lương phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động: mức lương được trả không được thấp hơn mức lương cơ bản do Nhà nước quy định để trả cho những người làm công việc đơn giản nhất, trong điều kiện môi trường lao động bình thường, lao động chưa qua đào tạo nghề, yêu cầu này đảm bảo việc thực hiện vai trò của tiền lương trong nền kinh tế và đời sống xã hội. Việc trả lương phải đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho NLĐ. Việc trả lương phải có tác dụng thúc đẩy tăng NSLĐ, chất lượng sản phẩm và hiệu quả lao động, phải đơn giản, dễ hiểu và dễ tính toán, giúp NLĐ có thể dễ dàng tính toán được tiền lương của mình, đánh giá được tiền lương đã trả đúng được với giá trị sức lao động bỏ ra.
Nguyên tắc trả lương.