CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE VE TIEN LƯƠNG, TIEN THUONG VA SU CAN THIẾT PHAI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TIEN LUONG, TIEN THUONG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế phát triển một các khách quan, đòi hỏi quan điểm, định hướng mới về tiền lương và thị trường lao động. Theo kinh tế học nhân lực, thị trường lao động là nơi mà ở đó diễn ra sự phân bồ những người lao động cho các công việc và điều phối các quyết định thuê mướn lao động.
Cũng như mọi thị trường khác, thị trường lao động cũng có cung và cầu. Cung lao động là lượng lao động mà người làm thuê có thé chấp nhận làm việc ở mỗi mức giá nhất định. Cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thé thuê ở mỗi mức giá có thê chấp nhận được. Sự vận động của cung và cầu lao động sẽ chi phối số lượng lao động tham gia thị trường lao động cũng như hình thành mức tiền công của các loại lao động.
Cung > cầu thì tiền công giảm, cung < cầu thì tiền công tăng. Tuy nhiên nếu quá nhấn mạnh vào các quy luật thị trường đến cơ chế tiền lương, thường tiềm ân những bất cập như: trả lương quá thấp so với sức lao động bỏ ra, thất nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo, bồ trí lao động không hợp ly,. vì vay sự kết hợp giữa thị trường và vai trò của Nhà nước trong việc vận hành cơ chế tiền lương là cần thiết. Trong Bộ luật lao động Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bố sung năm 2007, tại điều 55, Chương VI “Tiền Lương” có ghi: “Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiêu do Nhà nước quy định.” Như vậy, có thê nêu khái niệm tiền lương trong điều kiện hiện nay như sau: Tiền lương là phan thù lao lao động được biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp (người sw dụng lao động) trả cho người lao động căn cứ vào thời gian, khối lượng và chất lượng công việc của họ đã làm, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị và pháp luật của Nhà nước. Các thời kỳ khác nhau, quan niệm về tiền lương cũng được hiểu theo các cách khác nhau: Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương được hiểu là một phần của thu nhập quốc dân, biéu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động của mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho công nhân viên chức dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm tái sản xuất sức lao động. Theo cách hiểu này thì: - Tiền lương không phải giá cả sức lao động vì lao động không phải là hàng hoá, cả trong khu vực sản xuất kinh doanh cũng như khu vực quản lý Nhà nước xã hội.
- Tiền lương là một khái niệm thuộc phạm trù phân phối lại thu nhập quốc dân. - Tiền lương được coi là một bộ phận thu nhập quốc dân, được Nhà nước quản lý kế hoạch hoá một cách tập trung thống nhất từ Trung ương, coi 10 đó là một bộ phận của Ngân sách quốc gia. Khi nền kinh tế nước ta chuyền sang nền kinh tế thị trường, quan niệm trên đã bộc lộ những hạn chế, thiếu sót về vai trò của yếu tố sức lao động và bản chất của tiền lương trong sản xuất kinh doanh. Đó là: Thứ nhất: Vì không coi sức lao động là hàng hoá nên tiền lương không phải là tiền trả theo đúng giá trị của sức lao động, không phải là ngang giá của sức lao động theo quan hệ cung cầu.
Do vậy, những năm tôn tại mô hình kinh tế mệnh lệnh đã phổ biến hiện tượng phân phối theo chủ nghĩa bình quân. Thị trường lao động về danh nghĩa không tôn tại trong nền kinh tế quốc dân. Các quan hệ thuê mướn lao động dù manh nha ở một số địa phương, khu vực nhưng cũng chưa thê nói sức lao động được coi là hàng hoá. Trong khu vực kinh tế Nhà nước áp dụng chính sách biên chế suốt đời, Nhà nước bao cấp tiền lương, trả lương trong doanh nghiệp không thực sự gan liền với hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thứ hai: Tiền lương được coi là một bộ phận của thu nhập quốc dân nên cơ sở phân phối tiền lương phụ thuộc vào vấn đề phân phối thu nhập do Nhà nước quy định. Theo cơ chế phân phối này, thu nhập quốc dân còn nhiều thì phân phối nhiều, còn ít thì phân phối ít, nhiều khi không tính đến một cách day đủ sự bù đắp chi phí lao động. Kết quả là biên chế lao động ngày càng lớn, ngân sách thâm hụt nặng nề do phải bao cấp tiền lương, mà tiền lương lại không đủ tái sản xuất sức lao động, dẫn đến sản xuất kinh doanh mat động lực nên hiệu quả sút kém. Thứ ba: Tiền lương không còn là mối quan tâm của công nhân viên chức trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Cái họ quan tâm là những lợi ích 11 được phân phối ngoài đồng lương. Nền kinh tế mệnh lệnh ngày càng không đáp ứng được các nhu cầu thường nhật của đời sống nhân dân nên tệ tham nhũng từ cơ quan, xí nghiệp đến toàn bộ nền kinh tế xã hội có nguy cơ ngày một gia tăng. Người lao động mặc dù được coi là chủ nhưng không gắn bó với cơ sở sản xuất, phô biến tình trạng “chân trong chân ngoài”, lãng phí ngày công, giờ công. Đây là một hiện thực kéo dài nhiều năm, nó đã đây nền kinh tế vào hoàn cảnh khó khăn.
Hiện nay nền kinh tế nước ta đang chuyên sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường buộc chúng ta phải có những nhận thức mới đúng hơn về tiền lương, phủ hợp với cơ chế quản lý, đó là: - Thừa nhận sức lao động là một loại hàng hoá của thị trường yếu tố sản xuất. Tính chất hàng hoá của sức lao động có thể bao gồm không chỉ lực lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, lĩnh vực sản xuất kinh doanh thuộc sở hữu Nhà nước, mà cả đối với công chức, viên chức thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Tuy nhiên do những đặc thù riêng thuộc việc sử dụng lao động của từng khu vực kinh tế và quản lý mà các quan hệ thuê mướn, mua, bán, hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thoả thuận về tiền lương và cơ chế quản lý tiền lương cũng được thực hiện theo những hình thức khác nhau. - Tiền lương là bộ phận cơ bản chiếm đại bộ phận trong thu nhập của người lao động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Tiền lương mang bản chất kinh tế — xã hội. Bản chất kinh tế đòi hỏi 12 người sử dụng lao động phải tính toán vì nó là một yêu tô chi phí đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ đơn thuần mang bản chất kinh tế mà còn là một van đề xã hội rat quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự xã hội, do đó nó phải được Nhà nước can thiệp nhằm đảm bảo ổn định và công bằng. * Các nhân tổ ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng, phong phú, có thé chia ra các nhóm nhân tố sau: - Nhân tô bên ngoài doanh nghiệp gồm: thị trường lao động (cung — cầu sức lao động, hoàn cảnh nên kinh tế, ty lệ thất nghiệp trên thị trường, .); Sự khác biệt về trả lương theo vùng địa lý; Các quy định, chính sách của Nhà nước; Mức sống của người lao động,.
- Nhân tố thuộc về tổ chức, doanh nghiệp: Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh; lợi nhuận và khả năng trả lương; quy mô của doanh nghiệp; chính sách tiền lương của doanh nghiệp, văn hoá doanh nghiệp; tầm quan trọng của công việc đối với doanh nghiệp. - Nhân tố thuộc về công việc: Kỹ năng (yêu cau lao động trí óc, mức độ phức tạp của công viêc, các phẩm chất cá nhân cần thiết, đánh giá, các kỹ năng xã hội, kinh nghiệm.); Trách nhiệm (Kết quả tài chính, ra quyết định, kiểm soát, lãnh đạo, quan hệ khách hàng, .); Sự có gắng (thé lực, trí lực, áp lực của công viéc,.); điều kiện làm việc,. - Người lao động: Khả năng hiện tại (kiến thức, kỹ năng, phẩm chất lao động), tiềm năng cá nhân trong tương lai, kiến thức, tay nghề tích luỹ, thâm 13 niên nghề nghiệp, mức độ trung thành với doanh nghiệp, mức độ hoàn thành công viéc. Các yếu tổ cau thành tiền lương 1.
Chế độ tiền lương Chế độ tiền lương gồm chế độ tiền lương cấp bậc và chế độ tiền lương chức vụ. * Chế độ tién lương cấp bậc Chế độ tiền lương cấp bậc là chế độ trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động cũng như điều kiện lao động khi họ hoàn thành một công việc nhất định căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật của công việc thông qua thang bảng lương, mức lương. Số lượng lao động thé hiện ở mức hao phi thời gian để sản xuất và số lượng sản phẩm, còn chất lượng lao động thé hiện ở trình độ lành nghề của người lao động. Các yếu to cầu thành chế độ tiễn lương cấp bậc: - Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Là các quy định về mức độ phức tạp của công việc và trình độ lành nghề của công nhân ở một bậc nào đó phải có sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm được những công việc nhất định trong thực hành.
Độ phức tạp của công việc được hiểu là những đặc tính vốn có của công việc đòi hỏi người lao động có sự hiểu biết nhất định về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm ở mức cần thiết dé có thé hoàn thành công viéc.