lời mở đầu và kết luận, gồm ba chương chính: Chƣơng 1 : Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp. Chƣơng 2 : Thực trạng công tác kế toán vốn bằng tiền tại công ty TNHH 1TV Than Nam Mẫu-Vinacomin. Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty TNHH 1TV Than Nam Mẫu-Vinacomin. Hải phòng, ngày….tháng……năm 2013 Sinh viên Vũ Hải Quyên Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 1 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC 1.
Những vấn đề chung về vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: 1.Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: n. Xuấ quan trong doanh nghiệp, trong công tác kế toán của một doanh nghiệp không thể thiếu vị trí của kế toán vốn bằng tiền, một trong những khâu của công tác kế toán trong doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ và gắn bó tạo thành một hệ thống kế toán hoàn chỉnh.Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn bằng tiền: Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi đề cập đến tiền tệ người ta không nhìn nó một cách hạn hẹp và đơn giản rằng tiền tệ chỉ là kim loại hay tiền giấy mà người ta đã xem xét tiền tệ ở một góc độ rộng lớn hơn cả các loại séc; sử dụng tiền gửi, thanh toán bằng thẻ …nếu chúng có thể chuyển đổi dễ dàng thành tiền mặt thì cũng có thể xem là tiền. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư hàng hóa sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán và thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy quy mô của vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 2 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tượng của sự gian lận và ăn cắp.
Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của nhà nước - Khi quản lý vốn bằng tiền phải được dựa trên nguyên tắc chế độ, thể lệ của ngân hàng ban hành. - Nhà nước quy định ngân hàng là cơ quan duy nhất để phụ trách và quản lý tiền mặt. - Mọi khoản thu bằng tiền mặt bất cứ từ nguồn nào đều phải nộp hết vào ngân hàng trừ trường hợp: các xí nghiệp nhỏ, các cửa hàng ăn uống công cộng, các đơn vị ở xa ngân hàng hoặc những đơn vị có doanh thu thấp. - Các xí nghiệp tổ chức kinh tế và các cơ quan đều phải mở tài khoản tại ngân hàng để được lưu thông tiền tệ một cách dễ dàng hơn, và điều hòa được nguồn vốn trong các đơn vị.
- Mọi khoản thu chi vốn bằng tiền đều phải có chức từ gốc hợp lệ để chứng minh. - Nghiêm cấm các đơn vị cho thuê, mượn tài khoản - Ghi chép và theo dõi vốn bằng tiền là ngoại tệ, vàng bạc, đá quý để quản lý chi tiết từng loại. - Kế toán phải mở sổ theo dõi chi tiết từng loại tài khoản, thường xuyên kiểm tra và đảm bảo độ chính xác giữa số liệu trên sổ sách và thực tế. Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là bộ phận tài sản lưu động làm chức năng vật ngang giá chung trong các mối quan hệ trao đổi mua bán giữa doanh nghiệp với các đơn vị cá nhân khác.
Vốn bằng tiền là một loại tài sản mà doanh nghiệp nào cũng sử dụng. - Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 3 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp (HKD), … -. Nhiệm vụ và nguyên tắc hạch toán của vốn bằng tiền: 1. Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền: Xuất phát từ những đặc điểm trên, hạch toán vốn bằng tiền phải thực hiện các nhiệm vụ sau: - Theo dõi tình hình thu, chi, tăng, giảm, thừa, thiếu và số hiện có của từng loại vốn bằng tiền.
- Giám đốc thường xuyên tình hình thực hiện chế độ quản lý tiền mặt,kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng. - Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ, thường xuyên kiểm tra đối chiếu số liệu của thủ quỹ với kế toán tiền mặt. - Tham gia vào công tác kiểm kê quỹ tiền mặt, phản ánh kết quả kiểm kê kịp thời 1. Nguyên tắc hạch toán vốn bằng tiền: - Hạch toán kế toán phải sử dụng thống nhất một đơn vị giá trị là “ đồng Việt Nam ” để phản ánh tổng hợp các loại vốn bằng tiền.
Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 4 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp - Nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra “ đồng Việt Nam ” theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán. Đồng thời phải theo dõi cả nguyên tệ của các loại ngoại tệ đó. - Hạch toán vàng, bạc, kim khí quý, đá quý ở tài khoản tiền mặt phải tính ra tiền theo giá thực tế và không áp dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng , bạc, kim khí quý, đá quý. - Đối với vàng bạc, kim khí qúy, đá quý phản ánh ở tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, kim khí quý, đá quý phải theo dõi số lượng và trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng loại từng thứ.
Giá nhập vào trong kỳ được tính theo giá thực tế, còn giá xuất có thể được tính theo một trong các phương pháp sau: + Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền giữa giá đầu kỳ và giá các lần nhập trong kỳ. + Phương pháp giá thực tế nhập trước, xuất trước + Phương pháp giá thực tế nhập sau, xuất trước - Phải mở sổ chi tiết cho từng loại ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý theo dõi đối tượng, số lượng … Cuối kỳ hạch toán phải điều chỉnh lại giá trị ngoại tệ , vàng, bạc, kim khí quý, đá quý theo giá vào thời điểm tính toán dể có được giá trị thực tế và chính xác. Nếu thực hiên đúng các nhiệm vụ và nguyên tắc trên thì hạch toán vốn bằng tiền sẽ giúp doanh nghiệp quản lý tốt vốn bằng tiền, chủ động trong việc thực hiện kế hoạch thu chi và sử dụng vốn có hiệu quả cao.2 Nội dung tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: 1. Kế toán tiền mặt tại quỹ: 1.1 Quy định về kế toán tiền mặt tại quỹ: - Chỉ phản ánh vào tài khoản qũy tiền mặt, số tiền mặt kể cả ngân phiếu, ngoại tệ, vàng bạc đá qúy thực tế nhập xuất qũy đối với những trường hợp khoản tiền thu được mà chuyển nộp nay vào ngân hàng thì không đi qua tài khoản tiền mặt.
Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 5 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp - Các khoản tiền: vàng bạc, đá quý cho đơn vị và cá nhân khá kí cược, kí quỹ tại đơn vị thì việc quản lý và hạch toán các loại tài sản bằng tiền nhận kí cược, kí qũy như hạch toán tài sản của đơn vị mình. Riêng đối với vàng bạc đá qúi trước khi nhập qũi phải làm đầy đủ các thu tục về cân đối số lượng và giám định chất lượng sau đó tiến hành niêm phong có xác nhận của người kí cược, kí qũy trên dấu niêm phong. Đối với ngoại tệ, ngoài quy đổi ra đồng Việt Nam, kế toán còn phải theo dõi nguyên tệ trên tài khoản 007 - “Nguyên tệ các loại”. Việc quy đổi ra đồng Việt Nam phải tuân thủ các quy định sau: - Đối với tài khoản thuộc loại chi phí, thu nhập, vật tư, hàng hóa, tài sản cố định … dù doanh nghiệp có hay không sử dụng tỷ giá hạch toán, khi có các nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ đều phải luôn luôn ghi sổ bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
- Các doanh nghiệp có ít nghiệp vụ bằng ngoại tệ thì các tài khoản tiền, các tài khoản phải thu, phải trả được ghi bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá mua vào của ngân hàng Việt Nam công bố tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Các khoản chênh lệch tỷ giá (nếu có) của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào tài khoản 413 “Chênh lệch tỷ giá”. - Các doanh nghiệp có nhiều nghiệp vụ phát sinh bằng ngoại tệ có thể sử dụng tỷ giá hạch toán để ghi sổ các tài khoản tiền, phải thu, phải trả. Số chênh lệch giữa tỷ giá hạch toán và tỷ giá mua của ngân hàng tại thời điểm nghiệp vụ kinh tế phát sinh được hạch toán vào tài khoản 413 “Chênh lệch tỷ giá”.
- Khi tiến hành nhập qũy tiền mặt phải có đầy đủ các chứng từ hợp lệ theo qui định của chế độ kế toán hiện hành. - Kế toán qũy tiền mặt chịu trách nhiệm mở và giữ sổ qũy, ghi chép theo trình tự phát sinh các khoản thu chi, tính ra số tồn qũy tại mọi thời điểm. Riêng đối với vàng bạc đá qúi nhận kí cược, kí quỹ phải theo dõi riêng một số hoặc một trang sổ. Thủ qũy là người chịu trách nhiệm quản lý và nhập xuất qũy tiền mặt, và chịu tránh nhiệm quản lý chứng từ thu chi cuối tháng đối Sinh viên: Vũ Hải Quyên - Lớp: QT1303K 6 Trường ĐHDL Hải Phòng Khóa luận tốt nghiệp chiếu với kế toán.
- Hàng ngày thủ qũy phải kiểm kê số tiền còn tồn qũy thực tế và tiến hành đối chiếu với số liệu của sổ qũy ở kế toán. Nếu có sự chênh lệch thì kế toán và thủ qũy phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý số liệu đó. Chứng từ sử dụng: Việc thu, chi tiền mặt tại quỹ phải có lệnh thu, chi. Lệnh thu, chi này phải có chữ ký của giám đốc (hoặc người có ủy quyền) và kế toán trưởng.
Trên cơ sở các lệnh thu, chi kế toán tiến hành lập các phiếu thu, chi. Thủ quỹ sau khi nhận đươc phiếu thu, chi sẽ tiến hành thu hoặc chi theo những chưng từ đó.