phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Lý luận về tổ chức công tác kế toán trong Doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Kinh doanh VNPT - Quảng Nam. Chƣơng 3: Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Trung tâm Kinh doanh VNPT - Quảng Nam. 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Ý nghĩa, nguyên tắc, nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 1. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các chủ doanh nghiệp, nhà quản lý luôn phải tìm ra giải pháp nhằm tối ƣu hóa lợi nhuận. Hệ thống thông tin sử dụng cho việc đƣa ra các quyết định quản lý đƣợc thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên thông tin kế toán luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu. Thông tin kế toán phản ánh và giám sát một cách thƣờng xuyên, liên tục, toàn diện và có hệ thống đối với toàn bộ hoạt động, sức khỏe của một doanh nghiệp (DN).
Vì vậy tổ chức công tác kế toán (TCCTKT) tốt là nền tảng cơ bản để có thông tin chính xác, chất lƣợng phục vụ cho nhu cầu của quản lý. Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13 [6], kế toán đƣợc nhìn nhận là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Kế toán còn là khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản, sự vận động tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong DN, nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của DN. TCCTKT trong doanh nghiệp có thể hiểu là việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế - tổ chức phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phƣơng pháp khoa học của kế toán, phù hợp với chính sách chế độ quản lý kinh tế quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của DN để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế [2, tr.
Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015 quy định các nội dung cơ bản về TCCTKT: 8 Thứ nhất, tổ chức bộ máy kế toán: Tổ chức bộ máy kế toán là sự sắp xếp, phân công công việc cho từng kế toán viên và tổ chức luân chuyển chứng từ trong phòng kế toán của DN. Thứ hai, tổ chức vận dụng chứng từ kế toán: Khi có các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến hoạt động của DN đều phải tổ chức lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán chỉ đƣợc lập một lần cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Chứng từ kế toán là tài liệu gốc có tính bằng chứng, pháp lý và là thông tin vô cùng quan trọng trong công tác kế toán của DN.
Thứ ba, tổ chức hệ thống tài khoản kế toán: Tài khoản kế toán (TKKT) là phƣơng tiện để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng đối tƣợng kế toán riêng biệt. Một DN bình thƣờng sử dụng rất nhiều TKKT khác nhau, tạo nên một hệ thống TKKT. Thứ tư, tổ chức hệ thống sổ kế toán: Sổ kế toán (SKT) là khâu trung tâm của toàn bộ công tác kế toán, là bộ phận trung gian để các chứng từ gốc ghi chép rời rạc đƣợc tập hợp, phản ánh đầy đủ có hệ thống phục vụ công tác tính toán, tổng hợp thành các chỉ tiêu kinh tế thể hiện toàn bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và phản ánh lên các báo cáo kế toán. Thứ năm, tổ chức lập và phân tích báo cáo kế toán: Hệ thống báo cáo tài chính (BCTC) là bộ phận cấu thành trong hệ thống chế độ kế toán DN.
Nhà nƣớc có quy định thống nhất về nội dung, phƣơng pháp, thời gian lập và gửi đối với các báo cáo kế toán định kỳ. Thứ sáu, tổ chức công tác kế toán: TCCTKT là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý ở DN. Chất lƣợng của công tác kế toán phụ thuộc trực tiếp vào khả năng, trình độ thành thạo, đạo đức nghề nghiệp, sự phân công, phân nhiệm hợp lý các thành viên trong bộ máy kế toán. Thứ bảy, tổ chức trang bị, ứng dụng công nghệ xử lý thông tin trong công tác kế toán: Trong kỷ nguyên kỹ thuật số ngày nay, việc ứng dụng CNTT hỗ trợ rất nhiều trong hoạt động của bộ phận kế toán.
9 Nhƣ vậy, tổ chức có thể hiểu là việc sắp xếp các bộ phận trong một hệ thống để đạt đƣợc các mục tiêu của hệ thống. Nói cách khác tổ chức là việc thiết lập các yếu tố trong một hệ thống, mối quan hệ và sự hợp tác giữa các hệ thống nhằm phát huy tối đa các chức năng trong mối quan hệ tƣơng hỗ. TCCTKT chính là sự thiết lập mối quan hệ qua lại giữa các đối tƣợng kế toán, phƣơng pháp kế toán và bộ máy kế toán. Thông qua đó phát huy tốt nhất các tác dụng của kế toán trong hoạt động của doanh nghiệp.
Tóm lại, TCCTKT tại đơn vị kế toán một mặt phải giải quyết đƣợc việc tổ chức thực hiện các phƣơng pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phƣơng pháp, phƣơng tiện tính toán nhằm đạt đƣợc mục đích của công tác kế toán, mặt khác phải đảm bảo tổ chức bộ máy kế toán hợp lý nhằm tạo đƣợc sự liên kết và phối hợp chặt chẽ giữa các nhân viên kế toán đảm nhiệm và thực hiện tốt công tác kế toán trong đơn vị. Điều này khẳng định rõ TCCTKT là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động của DN và có ý nghĩa trên các khía cạnh sau: Thứ nhất, TCCTKT sẽ cung cấp thông tin kế toán một cách trung thực, kịp thời phục vụ cho việc đƣa ra các quyết định kinh doanh, hạn chế bớt rủi ro, đồng thời giúp cho DN thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong công tác quản lý TCKT. Thứ hai, tổ chức tốt sẽ giúp DN quản lý chặt chẽ các loại tài sản, nguồn vốn, giúp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của DN đúng mục đích, xác định rõ lợi ích và nghĩa vụ của DN. Thứ ba, tổ chức tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả bộ máy kế toán, công tác quản lý, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí và giảm thiểu sự chồng chéo.
Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán Theo giáo trình TCCTKT trong DN của Học viện Tài chính [19, tr11], TCCTKT trong DN cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: TCCTKT phải tuân thủ pháp luật, qui định của Nhà nước về tài chính kế toán. TCCTKT chịu ảnh hƣởng trực tiếp bởi các chính 10 sách kinh tế, tài chính, kế toán với tƣ cách là nền tảng pháp lý quan trọng để đảm bảo tính hợp pháp của thông tin kế toán. Việc ban hành chế độ, thể lệ kế toán của Nhà nƣớc nhằm mục đích quản lý thống nhất công tác kế toán trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy TCCTKT phải dựa trên cơ sở chế độ chứng từ kế toán, hệ thống TKKT doanh nghiệp, hệ thống BCTC mà nhà nƣớc qui định để vận dụng một cách phù hợp với chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ.
Nguyên tắc 2: TCCTKT phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi DN có đặc điểm và điều kiện hoạt động kinh doanh khác nhau. Vì vậy, không thể có một mô hình công tác kế toán tối ƣu cho tất cả các DN, nên để tổ chức tốt công tác kế toán trong DN thì việc TCCTKT phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động quản lý, qui mô và địa bàn hoạt động của DN để cụ thể hóa. Nguyên tắc 3: TCCTKT phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.
Tiết kiệm, hiệu quả là nguyên tắc của công tác tổ chức nói chung và TCCTKT nói riêng. Đồng thời nguyên tắc này cũng phải đảm bảo tính khoa học, hợp lý, thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của kế toán, nâng cao chất lƣợng công tác kế toán, quản lý chặt chẽ, hiệu quả, tính toán và đo lƣờng chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nguyên tắc 4: TCCTKT phải đảm bảo thống nhất giữa kế toán và quản lý. Kế toán là một phân hệ trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động tài chính của DN.
Vì vậy trong hoạt động quản lý chung của DN và quản lý tài chính kế toán nói riêng phải có sự thống nhất chung về các chỉ tiêu, mục tiêu và kết quả. Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán Để thực hiện tốt TCCTKT trong DN cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Tổ chức bộ máy kế toán khoa học, hợp lý để thực hiện toàn bộ công việc kế toán phù hợp với DN, phân định trách nhiệm rõ ràng của từng cá 11 nhân, từng khâu quy trình nghiệp vụ, từng đơn vị trong tổng thể công tác kế toán của DN. - Tổ chức vận dụng phƣơng pháp kế toán, nguyên tắc kế toán, chế độ kế toán và hệ thống TKKT phù hợp, đáp ứng yêu cầu quản lý, đảm bảo chất lƣợng của thông tin kế toán. - Sử dụng phƣơng tiện, kỹ thuật tính toán, thông tin hiện đại vào công tác kế toán của DN.
- Xây dựng, tổ chức mối quan hệ giữa bộ máy kế toán với các bộ phận quản lý khác trong DN về các công việc, các khâu, các công đoạn có liên quan đến công tác kế toán của DN. - Tổ chức hƣớng dẫn công tác chấp hành chế độ kế toán, tổ chức bộ máy thực hiện kiểm tra công tác kế toán trong nội bộ DN. - Tổ chức phân tích, đánh giá thông tin, cung cấp kịp thời cho các nhà quản trị thông qua hệ thống báo cáo kế toán quản trị, các bảng báo cáo phân tích tình hình tài chính DN. Nội dung tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp 1.