MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Gần 20 năm qua, kể từ khi mô hình Tổng công ty được thành lập và phát triển theo mô hình công ty mẹ - công ty con, nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Đặc biệt là trong bối cảnh nhiều nền kinh tế trên thế giới suy thoái bởi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thì kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững và từng bước phát triển. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kế toán Việt Nam không ngừng được đổi mới, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý kinh tế tài chính thông qua công cụ hữu hiệu này.
Hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới, kế toán càng trở nên quan trọng trong việc cung cấp thông tin về kinh tế tài chính phục vụ cho công tác điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp là một trong những chủ trương lớn của Đảng và nhà nước để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững nền kinh tế trong điều kiện hội nhập và thực hiện cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Kế toán là công cụ quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý của doanh nghiệp cần phải được tổ chức hợp lý và khoa học nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ quá trình điều hành hoạt động cho nhà quản lý trong doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà đầu tư, nhà cung cấp… Về lý luận tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc loại hình kinh doanh khác nhau, trong đó có các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con đã được một số tác giả nghiên cứu và đạt được kết quả nhất định. Song, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu vào các nền kinh tế thế giới, hoạt động của các doanh nghiệp cũng ngày càng đa dạng, đòi hỏi kế toán phải cung cấp được những thông tin hữu ích, phù hợp với từng đối tượng sử dụng thông tin kế toán của doanh nghiệp với các mục đích khác nhau.
Theo đó, việc hệ thống hóa và làm rõ thêm khái niệm, nguyên tắc và luan an 2 nội dung của tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con, từ đó có thể vận dụng vào thực tiễn là một yêu cầu cấp thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Trên thực tế, các tổng công ty mạnh, các Tập đoàn kinh tế ở nước ta những năm vừa qua đã góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao nguồn thu của ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm cho người lao động. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề tổ chức công tác kế toán là nhiệm vụ trọng yếu của các doanh nghiệp nói chung và các tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con nói riêng nhằm thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp đầy đủ và kịp thời các thông tin tài chính kế toán phục vụ cho công tác quản lý, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo phát triển bền vững. Song, qua tìm hiểu cho thấy thực tế vấn đề tổ chức công tác kế toán đối với các Tổng công ty nói chung và Tổng công ty 319 nói riêng vẫn còn nhiều bất cập.
Hơn nữa, Tổng công ty 319 Bộ Quốc phòng là doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con trực thuộc Bộ Quốc phòng, với những đặc điểm hoạt động kinh doanh phức tạp, nhiều lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau và địa bàn hoạt động rộng khắp trên cả nước, bên cạnh hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động xây lắp là chủ yếu còn thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Xuất phát từ những lý luận và thực tiễn đã phân tích trên đây, để góp phần hệ thống hóa lý luận và thông qua khảo sát thực tiễn về tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty 319 Bộ Quốc phòng, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Tổng công ty 319 Bộ Quốc phòng” làm đề tài luận án tiến sĩ kinh tế. Đề tài vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với chuyên ngành kế toán (mã số 9. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Về lý luận cũng như trong thực tiễn, mọi doanh nghiệp thuộc loại hình hoạt động và lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau đều phải quan tâm đến vấn đề tổ chức công tác kế toán hợp lý và khoa học. Bởi vì chỉ có như vậy, mới có thể cung cấp được những thông tin trung thực, chính xác và kịp thời cho nhà luan an 3 quản lý trong việc điều hành quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả mong muốn. Do mỗi thời kỳ khác nhau, sự phát triển của nền kinh tế xã hội cũng khác nhau nên các đề tài nghiên cứu chỉ có thể đạt được những kết quả tương ứng với thời gian nghiên cứu và sau một số năm nhất định. Khi có sự thay đổi về thời gian, không gian cũng như trình độ phát triển của kinh tế - xã hội thì cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu các vấn đề còn hạn chế trước đây nhằm xem xét kết quả đạt được, những khoảng trống để đề ra nhiệm vụ nghiên cứu tiếp tục.
Sau khi nghiên cứu các công trình đã công bố liên quan đến tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp, NCS nhận thấy, trong những năm qua có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này trên các góc độ khác nhau. Có thể khái quát các vấn đề nghiên cứu theo các nội dung sau đây: Thứ nhất, các công trình liên quan đến doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con. Trên thế giới, doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty còn đã có từ rất lâu, song do sự phát triển của các nền kinh tế và chế độ chính trị của mỗi nước khác nhau, mô hình hoạt động này chủ yếu thuộc sở hữu tư nhân. Do những đặc điểm khác nhau chi phối đến tổ chức công tác kế toán, cụ thể là chi phối đến tổ chức bộ máy kế toán và các công việc kế toán cụ thể liên quan đến lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất nên nhiều công trình của các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề này.
Điển hình là nghiên cứu của tác giả Christine Windbich ler (2000), “Corporate Group Law for Europe” [47] đã nêu rõ các nguyên tắc và đề xuất Luật tập doàn kinh tế và các tổ chức kinh doanh tại Châu Âu. Trong nghiên cứu, tác giả đã đề cập đến những quy định cụ thể của Liên minh Châu Âu về tổ chức hoạt động của các tập đoàn kinh tế, trong đó đề cập đến vấn đề tổ chức công tác kế toán của các tập đoàn. Nghiên cứu của các tác giả Colpal.(2010), “Foundations of Business Groups: Towards an Integrated FrameWork” [48] chỉ ra cơ sở hình thành các tập đoàn kinh tế, đề xuất kiến nghị hoàn thiện công tác quản lý, trong đó có việc hoàn thiện về bộ máy kế toán và các quy định cụ thể về kế toán trong các tập đoàn, đặc biệt là các quy định về hợp nhất báo cáo tài chính. luan an 4 Nghiên cứu của tác giả GS.TS Đoàn Xuân Tiên và cộng sự (2004) “Xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo loại hình công ty mẹ, công ty con ở Việt Nam” [25].
Nhóm tác giả đề tài đã nghiên cứu lý luận cơ bản về mô hình công ty mẹ - công ty con và tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp theo mô hình này. Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài đánh giá thực trạng về tổ chức công tác kế toán theo các loại hình doanh nghiệp hiện nay ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán của những doanh nghiệp này. Các vấn đề nghiên cứu được nhóm tác giả trình bày và phân tích một cách khái quát, mang tính lô gic và tính khoa học. Nội dung định hướng, nguyên tắc và các giải pháp xây dựng mô hình tổ chức công tác kế toán theo mô hình công ty mẹ - công ty con được tập trung vào các vấn đề như: Phân biệt mô hình TCT hiện nay với mô hình công ty mẹ - công ty con; tổ chức bộ máy kế toán và cụ thể hóa những phần hành kế toán trong bộ máy kế toán của các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con.
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương, trong luận án tiến sỹ về đề tài “Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con thuộc Bộ Quốc phòng” [15]. Luận án đã mô tả khá rõ nét về quá trình hình thành và phát triển của các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con tại Việt Nam và trên thế giới. Đặc điểm của các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán được tác giả Trần Hải Long nghiên cứu cụ thể tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam trong đề tài luận án tiến sỹ năm 2011“Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam” [19]. Về lý luận, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế và cho rằng “Quan hệ giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn kinh tế thông thường bao gồm các quan hệ giao dịch kinh doanh, tài chính, phân phối lợi ích, trao đổi thông tin, nhân sự, văn hóa tập đoàn.
Đó là mối quan hệ giữa công ty mẹ và các công ty con, giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn”.