Mở đầu Phần B: Nội dung gồm có ba chương, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc cải tiến chương trình đào tạo chuyên ngành Sinh hóa tại Khoa Sinh học trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn của việc cải tiến chương trình đào tạo chuyên ngành Sinh hóa tại Khoa Sinh học tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp. Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp cải tiến chương trình đào tạo chuyên ngành Sinh hóa tại Khoa Sinh học trường Đại học Khoa học Tự nhiên Tp.HCM thông qua phản hồi của thị trường lao động Tp. Phần C: Kết luận và Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 PHẦN B: NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CẢI TIẾN CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CHUYÊN NGÀNH SINH HÓA 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: 1.Tính thời sự về vấn đề nghiên cứu: Vấn đề cải tiến chương trình đào tạo ( CTĐT) trên thế giới đã có khá lâu.
Các nước Đông Á, Châu Âu và Trung Quốc ngay từ những ngày đầu tiến hành CNH nền kinh tế đều đã coi con người là nhân tố quan trọng và cần được đào tạo không chỉ về số lượng mà cả chất lượng theo nhu cầu thị trường. Tuy cách thức đào tạo của mỗi nước là khác nhau như các nước Đông Á gắn đào tạo theo sát nhu cầu của thị trường trong từng giai đoạn phát triển, các nước Châu Âu tạo mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nhà trường, Trung Quốc tiến hành cải cách mạnh mẽ giáo dục theo nhu cầu của hiện đại hoá, của thế giới và của tương lai song tựu chung lại các nước đều gắn đào tạo theo nhu cầu xã hội. Đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho nền kinh tế của các nước này phát triển vượt bậc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (Nghị quyết 29-NQ/TW) ngày 04 tháng 11 năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" đã nêu lên những định hướng: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách,…đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học; Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu triển kinh tế-xã hội.
Trong Nghị quyết cũng nêu Mục tiêu cụ thể đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Và những nhiệm vụ, biện pháp cụ thể để thực hiện Nghị quyết là cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu 6 ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.
Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khoá, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học.
Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới. Từ năm 1987 đến nay, với công cuộc đổi mới GDĐH, việc thiết kế CTĐT của nước ta được đổi mới theo phương hướng: trong CTĐT cấp đại học phần GDĐC được chú ý và phần GDCN được thiết kế theo diện rộng, thêm cấp cao học cung cấp giáo dục nghề nghiệp chuyên sâu hoặc liên ngành, và chỉ còn một cấp đào tạo tiến sĩ.14] Trước xu hướng đổi mới về giáo dục, Cải tiến CTĐT là vấn đề trọng tâm hàng đầu hiện nay của Trường ĐH KHTN và các trường, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình bảo đảm chất lượng và nâng cao hiệu quả đào tạo. Một số đề tài nghiên cứu nƣớc ngoài và trong nƣớc có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Ở nƣớc ngoài: Vấn đề chương trình và xây dựng chương trình đào tạo đã được nhiều nhà khoa học nước ngoài quan tâm nghiên cứu như Tim Wentling (1993), Tyller (1994), Bobbit và K. Diamond (1998) đã có công trình nghiên cứu sâu về xây dựng môn học và chương trình học.
Tác giả đã cung cấp những thông tin về cách xây dựng, đánh giá môn học và chương trình học, những quan điểm và mô hình về xây dựng, đánh giá chương trình [5]. Jon Wiles và Jose Bondi (2002) với tác phẩm « Curriculum develoment a guide to practice » đề cập đến chương trình học và hoạch định chương trình trong kỷ nguyên mới. Hai ông cũng đề xuất những phương án thiết kế chương trình, nhiệm vụ cơ bản trong công tác xây dựng chương trình học, quản lý chương trình và công tác giảng dạy [6]. Tác giả người Mỹ Peter F.Oliva đã cho xuất bản lần thứ 4 cuốn sách về “Xây dựng chương trình học” (2005) [7], trong đó đã thể hiện rất khái quát và rõ ràng ở hầu hết các vấn đề cốt lõi của việc xây dựng và đánh giá chương trình học.
Tác giả đã phân tích rõ: các nguyên tắc về xây dựng chương trình học; hoạch định các chương trình học; các mô hình xây dựng chương trình học; các mục đích và mục tiêu của chương trình học; tổ chức và thực hiện chương trình; đánh giá chương trình học … Tác giả E. Trong sách giới thiệu về 12 tiêu chuẩn là một hệ thống phương pháp phát triển chương trình đào tạo kỹ sư, nhưng về bản chất, đây là quy trình đào tạo chuẩn, căn cứ đầu ra (outcome-based) để thiết kế đầu vào. Quy trình này được xây dựng đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn chặt chẽ. Khi xây dựng, phát triển chương trình đào tạo theo cách tiếp cận CDIO, phải tuân thủ các quy trình một cách chặt chẽ: xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế khung chương trình và cách chuyển tải nó trong thực tiễn, đồng thời đánh giá kết quả học tập cũng như toàn bộ CTĐT.
Báo cáo của trường ĐH Newcastle (Anh Quốc) “Charactersing modes of university engagement with wider society: A literature review and survey of best practice” (2009), trong bản báo cáo phần tổng quan cho thấy các hệ thống giáo 8 dục ĐH trên thế giới đã và đang rất quan tâm đến những hoạt động nhằm giúp các trường ĐH, CĐ gắn kết với xã hội (bao gồm chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, các cộng đồng khu vực và quốc tế. Hoạt động gắn kết này được thể hiện trên bốn nhóm hoạt động chủ yếu: kết hợp nghiên cứu, Chia sẻ kiến thức, Dịch vụ, Giảng dạy.[9] Ở trong nƣớc: Tạp chí Phát triển và hội nhập với bài viết “Phát triển chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đại học Việt Nam” (2002), bài viết tiếp cận lý thuyết về phát triển chương trình đào tạo đại học hiện đại; phân tích các xu thế trên thế giới trong việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức; cách tiếp cận và xây dựng phát triển CTĐT; đánh giá khái quát những tồn tại trong việc xây dựng CTĐT ở các trường đại học nước ta hiện nay. Thông qua đó tác giả có những ý kiến trong việc nâng cao chất lượng đào tạo bậc cử nhân tại các trường đại học Việt Nam. Lê Văn Hảo với bài viết “Chương trình đào tạo đại học với yêu cầu phát triển kỹ năng” (2003) đã phân tích về các cách tiếp cận của việc xây dựng và đánh giá một chương trình đào tạo, phân tích một số nhược điểm về xây dựng CTĐT của giáo dục đại học Việt Nam.
Tiếp theo đó tác giả đã phân tích vai trò quan trọng của mục tiêu kỹ năng khi xây dựng mục tiêu đào tạo đại học, đồng thời đưa ra một số đề nghị khi xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo. [11] Tác giả Nguyễn Hữu Đức với báo cáo tham luận “Về việc tổ chức đào tạo theo nhu cầu xã hội ở nước ta” tại Hội thảo quốc gia "Đào tạo theo nhu cầu xã hội" (2007) bài viết phân tích và khái quát cách hiểu đào tạo theo nhu cầu, đồng thời tác giả cũng đề cập quá trình “cung-cầu” lao động trên thị trường.[12] Bài viết của PGS.TS Nguyễn Văn Nhã “Xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” (2009) đã phân tích về các cách tiếp cận của việc xây dựng một CTĐT đại học. Tiếp theo tác giả cũng đề cập đến vấn đề hoàn chỉnh chương trình đào tạo theo module, đồng thời đưa ra một số ví dụ minh họa. Lê Văn Hảo với bài viết “Nhìn lại chủ trương -Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội” (2010) đã phân tích về tình hình đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tiếp theo đó tác giả đã phân tích và đưa ra đề nghị từ những quan niệm, chủ trương trên thế giới liên quan đến việc trường đại học đáp ứng nhu cầu xã hội. [14] Năm 2010 một Dự án mới do Chính phủ Luxembourg tài trợ sẽ gắn với thực tiễn và nhu cầu thị trường trong phát triển du lịch tại Việt Nam. Tác giả Vũ Thị Nga đã xuất bản sách “Đào tạo cán bộ thông tin-thư viện theo nhu cầu thị trường lao động”(2012). Tạp chí PetroTimes với bài viết “Đào tạo theo nhu cầu xã hội – Giải bài toán về nguồn nhân lực (2012).
Bài viết đã nêu lên thực trạng đào tạo đại học ở Việt Nam; khái niệm “Đào tạo theo nhu cầu xã hội” và ý kiến về sự phối hợp giữa các doanh nghiệp, cơ quan với nhà trường để việc đào tạo đại học thực sự đáp ứng được nhu cầu của cơ quan tuyển dụng, tránh tình trạng phải đào tạo lại, đào tạo thêm chuyên môn sau khi tốt nghiệp.