chương 1 Trong chương này tác giả đã nêu lên lý do chọn đề tài, sự cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài “Hoàn thiện các cấp độ Văn hoá doanh nghiệp tại Công ty Cổ phần Cấp nước Nhà Bè”cũng như đóng góp mới của luận văn và cấu trúc toàn luận văn. 8 Chương 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về văn hóa Ở phương Tây, văn hoá-culture (trong tiếng Anh, Pháp) hay kultur (tiếng Đức)… đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người. Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hoá bao hàm ý nghĩa: văn là vẻ đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền.
Còn chữ hoá trong văn hoá là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống. Vậy văn hoá chính là nhân hoá hay nhân văn hoá. Đường lối văn trị hay đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo hoá, là giáo dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự cưỡng bức). Văn hoá trong từ nguyên của cả Phương Đông và Phương Tây đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người (bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.BTayLor: “VH là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục, và tất cả những thói quen.
Khả năng mà con người đạt được với tư cách là thành viên của một xã hội” Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức, linh cảm … khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng …”(Văn hóa doanh nghiệp, Đỗ Thị Phi Hoài, 2009, trang 7) 9 Theo Hồ Chí Minh: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra trong cuộc sống của mình, trong mối quan hệ với con người, tự nhiên, và xã hội”. Trần Ngọc Thêm: “ Văn hóa là tổng thể các quy ước xã hội được xem là có giá trị và hiệu quả nhất được sáng tạo ra bởi một cộng đồng người trong quá trình tương tác với tự nhiên và với nhau”. (Đề cương bài giảng văn hóa doanh nghiệp , TS.
Phan Đình Quyền) Theo E.Herriot: “Văn hóa là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả” (Văn hóa doanh nghiệp, Đỗ Thị Phi Hoài, 2009, trang 7) Khái niệm văn hóa rất rộng, những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng làm nền tảng định hướng lối sống, tâm hồn và hành động của con người để vươn tới cái đúng, cái đẹp trong mối quan hệ của người và với tự nhiên, môi trường xã hội. Như vậy, Nói đến văn hóa là nói đến con người, nói tới những đặc trưng riêng chỉ có ở loài người, nói tới việc phát huy những năng lực và bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Cho nên văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, từ những cách giao tiếp ứng xử cho đến những hoạt động kinh tế. Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần, nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới chân - thiện - mỹ và khả năng sáng tạo nó trong đời sống.2 Các đặc trưng cơ bản của văn hóa 2.1 Tính hệ thống của văn hóa Khái niệm mọi sự vật xung quanh ta tự thân đều là những hệ thống.
Tuy nhiên, văn hoá như một hệ thống nhưng lại quá phức tạp, đến mức tính hoàn chỉnh của nó thường bị che lấp bởi các nhân tố bộ phận. Do vậy, sự cần thiết tính hệ thống của văn hóa, cần xem xét mọi giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Tính hoàn chỉnh cho phép phân biệt một nền văn hoá hoàn chỉnh với một tập hợp rời rạc các giá trị văn hoá.2 Tính giá trị của văn hóa 10 Những hệ thống giá trị mới là văn hóa, Văn hóa chỉ chứa cái hữu ích, cái tốt, cái đẹp. Nó là thước đo mức độ nhân bản của con người.
Tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất giúp đi sâu vào bản chất của khái niệm văn hóa. Nó cho phép phân biệt văn hóa với cái phi văn hóa, vô văn hoá; phân biệt văn hoá thấp với văn hoá cao. Phân biệt văn hoá theo nghĩa hẹp và văn hoá theo nghĩa rộng. Nhờ tính giá trị, ta có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng, tránh được những xu hướng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời.3 Tính nhân sinh của văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau.
Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa. Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không có sẵn trong bản thân sự vật (hiện tượng) mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng của văn hoá. Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hoá với tự nhiên. Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên.
Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là một “tự nhiên thứ hai”.4 Tính lịch sử của văn hóa Tự nhiên được biến thành văn hóa là nhờ có hoạt động xã hội - sáng tạo của con người. Nhờ có hoạt động này mà các giá trị được tích lũy và tạo thành văn hoá. Bản thân các hoạt động cũng chính là các giá trị văn hoá. Sự tích lũy các giá trị tạo nên đặc điểm thứ ba của văn hoá là tính lịch sử.
Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hoá. Tính lịch sử cần để phân biệt văn hóa như cái được tích lũy lâu đời với văn minh như cái chỉ trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định.2 Văn hóa kinh doanh Theo Từ điển tiếng Việt, “Kinh doanh” được hiểu là “tổ chức việc sản xuất buôn bán sao cho sinh lời”. Với nghĩa phổ thông này từ “Kinh doanh” không những có nghĩa “Buôn bán” mà còn bao hàm cả nghĩa “Tổ chức việc sản 11 xuất”. Kinh doanh là hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức nhằm đạt mục đích đạt lợi nhuận qua một loạt các hoạt động kinh doanh như quản trị, tiếp thị, tài chính, kế toán, sản xuất.
Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của con người, xuất hiện cùng với hàng hóa và thị trường. Dù xét từ giác độ nào thì mục đích chính của kinh doanh là đem lại lợi nhuận cho chủ thể kinh doanh, nên bản chất của kinh doanh là để kiếm lời. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh là một nghề chính đáng xuất phát từ nhu cầu phát triển của xã hội, do sự phân công của lao động xã hội tạo ra.
Còn việc kinh doanh như thế nào, kinh doanh đem lại lợi ích và giá trị cho ai thì đó chính là vấn đề của văn hóa kinh doanh (Văn hóa kinh doanh, Dương Thị Liễu, 2013, trang 42).1 Khái niệm về văn hóa kinh doanh Với cách tiếp cận về văn hóa như trên, có thể hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa kinh doanh là toàn bộ các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần do chủ thể kinh doanh sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động kinh doanh, trong sự tương tác giữa chủ thể kinh doanh với môi trường kinh doanh. Như vậy, theo nghĩa rộng, văn hóa kinh doanh là toàn bộ những giá trị vật chất lẫn tinh thần, những phương thức và kết quả hoạt động của con người được tạo ra và sử dụng trong những hoạt động và trong quá trình kinh doanh. Những phương thức và kết quả hoạt động đó sẽ có tác động tích cực hoặc tiêu cực, tùy thuộc vào quá trình thực hiện của doanh nghiệp. Văn hóa là những giá trị, thái độ và hành vi giao tiếp được đa số thành viên của một nhóm người cùng chia sẽ và phân định nhóm này với nhóm khác.
Văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người. Vậy, có thể hiểu văn hóa kinh doanh là lối ứng xử của cá nhân, tổ chức làm kinh tế (doanh nghiệp, doanh nhân) với tất cả những gì liên quan, phù hợp với xu thế thời đại. Do vậy, theo nghĩa hẹp, có thể hiểu: Văn hóa kinh doanh là một hệ thống các giá trị, các chuẩn mực, các quan niệm và hành vi do chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, 12 được thể hiện trong cách ứng xử của họ với xã hội, tự nhiên ở một cộng đồng hay một khu vực. Văn hóa kinh doanh là toàn bộ các giá trị văn hóa được chủ thể kinh doanh sử dụng và tạo ra trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của chủ thể đó.
Văn hóa kinh doanh không chỉ là văn hóa mà các chủ thể kinh doanh sử dụng trong kinh doanh của họ mà còn là giá trị sản phẩm văn hóa mà các chủ thể kinh doanh (là doanh nhân, doanh nghiệp) sáng tạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ. Theo đó, văn hóa kinh doanh ở đây được xem xét trên 2 phương diện: + Cách thức, mức độ mà doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng trong quá trình kinh doanh của họ. + Sản phẩm và những giá trị văn hóa mà các doanh nhân, doanh nghiệp tạo ra trong hoạt động kinh doanh của họ.