phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thẩm định dự án đầu tƣ vốn ngoài ngân sách - Chƣơng 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tƣ vốn ngoài ngân sách trên địa bàn KKT Vân Đồn của Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh - Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tƣ vốn ngoài ngân sách trên địa bàn KKT Vân Đồn của Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh 6 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH 1. Dự án đầu tƣ vốn ngoài ngân sách 1. Khái niệm và vai trò của dự án đầu tư vốn ngoài ngân sách 1. Khái niệm về dự án đầu tư và dự án đầu tư ngoài ngân sách Khái niệm dự án đầu tƣ đƣợc xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: - Về mặt hình thức: dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động sẽ đƣợc thực hiện với các nguồn lực và chi phí, đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ nhằm đạt đƣợc những kết quả cụ thể để thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai.
- Về mặt nội dung: dự án đầu tƣ là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt đƣợc sự tăng trƣởng về số lƣợng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lƣợng của sản phẩm, dịch vụ trong khoảng thời gian xác định. Một dự án đầu tƣ phải làm rõ các nội dung sau: + Các mục tiêu của dự án: đó là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhà đầu tƣ và cho xã hội. + Các hoạt động để thực hiện mục tiêu của dự án. + Các nguồn lực cần thiết để thực hiện các hoạt động của dự án và chi phí về các nguồn lực đó.
+ Thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt động của dự án. + Các nguồn vốn đầu tƣ để tạo nên vốn đầu tƣ của dự án. + Các sản phẩm và dịch vụ đƣợc tạo ra của dự án. - Dự án đầu tƣ vốn ngoài ngân sách là dự án sử dụng nguồn vốn đầu tƣ không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc.
Vai trò của dự án đầu tư ngoài ngân sách: - Dự án đầu tƣ là căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tƣ quyết định bỏ vốn đầu tƣ, để cơ quan có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền quyết định chủ trƣơng đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ là phƣơng tiện để tìm đối tác trong và ngoài nƣớc liên doanh bỏ vốn đầu tƣ, là phƣơng tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nƣớc tài trợ hoặc cho vay vốn, là văn kiện cơ bản để các cơ quan quản lý Nhà nƣớc xem xét, phê duyệt, cấp giấy phép đầu tƣ. - Dự án đầu tƣ là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tƣ, theo dõi, đánh giá và có sự điều chỉnh kịp thời những tồn tại và vƣớng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình. - Dự án đầu tƣ tốt có tác dụng tích cực giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa các bên có liên quan đến việc thực hiện dự án.
Đây cũng là cơ sở pháp lý để xét xử khi có tranh chấp giữa các bên tham gia liên doanh, là căn cứ quan trọng để xây dựng hợp đồng liên doanh, soạn thảo điều lệ. Yêu cầu của dự án đầu tư ngoài ngân sách Một dự án đầu tƣ muốn có sức thuyết phục, mang tính khả thi thì phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau : 1. Tính khoa học: Đây là một yêu cầu lớn và rất quan trọng đối với dự án. Để đảm bảo tính khoa học của dự án, những ngƣời soạn thảo dự án phải có một quá trình nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ càng, tính toán chính xác từng nội dụng của dự án.
Nhiều nội dung rất phức tạp nhƣ phân tích tài chính, phân tích nội dung kỹ thuật của dự án, xây dựng tiến độ sử dụng vốn…. rất cần sự tƣ vấn, giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn làm dịch vụ đầu tƣ. Tính thực tiễn: Một dự án mang tính thực tiễn cho phép giảm bớt những yếu tố “không lƣờng trƣớc đƣợc”. Muốn vậy, các nội dung của dự án phải đƣợc nghiên cứu và xác định trên cơ sở xem xét, phân tích, đánh giá 8 z đúng mức các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới hoạt động đầu tƣ.
Những hoạt động cụ thể thông thƣờng đƣợc xem xét là: điều kiện về mặt hàng, về công nghệ thiết bị, cung ứng vật tƣ, về vốn…. Tính pháp lý: Là cơ sở bƣớc đầu để một dự án đầu tƣ có đƣợc phép đầu tƣ hay không. Một dự án đầu tƣ muốn đƣợc Nhà nƣớc cấp giấy phép đầu tƣ để đi vào hoạt động thì trƣớc hết dự án đó phải chứa đựng những điều không trái với pháp luật và chính sách của Nhà nƣớc. Điều này đòi hỏi ngƣời soạn thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc và các văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động đầu tƣ.
Tính thống nhất (hay tính chuẩn mực): Sự ra đời của dự án không thể thiếu tính thống nhất, bởi dự án có liên quan đến nhà tài trợ, các cơ quản quản lý Nhà nƣớc. Để tạo điều kiện cho các bên đối tác hiểu và quyết định lựa chọn dự án đầu tƣ, các tổ chức tài chính quyết định tài trợ hay cho vay vốn đối với dự án và Nhà nƣớc xem xét cấp giấy phép hoạt động cho dự án thì dự án phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tƣ. Đối với những dự án quốc tế thì chúng còn phải tuân theo những quy định chung mang tính quốc tế. Phân loại dự án đầu tư ngoài ngân sách 1.
Xét theo cơ cấu tái sản xuất : Dự án đầu tƣ đƣợc phân thành dự án đầu tƣ theo chiều rộng và dự án đầu tƣ theo chiều sâu. Trong đó dự án đầu tƣ theo chiều rộng thƣờng đòi hỏi khối lƣợng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tƣ và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn dự án đầu tƣ theo chiều sâu thƣờng đòi hỏi khối lƣợng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tƣ không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tƣ theo chiều rộng. Xét theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội: Dự án đầu tƣ có thể phân chia thành dự án đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tƣ phát 9 z triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội)., hoạt động của các dự án đầu tƣ này có quan hệ tƣơng hỗ với nhau.
Chẳng hạn các dự án đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn; còn các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh đến lƣợt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tƣ khác. Theo các giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội: Có thể phân loại các dự án đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh thành dự án đầu tƣ thƣơng mại và dự án đầu tƣ sản xuất. Dự án đầu tƣ thƣơng mại là loại dự án đầu tƣ có thời gian thực hiện đầu tƣ và hoạt động của các kết quả đầu tƣ để thu hồi vốn đầu tƣ ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Dự án đầu tƣ sản xuất là loại dự án đầu tƣ có thời hạn hoạt động dài hạn (10, 20 năm hoặc lâu hơn) vốn đầu tƣ lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tƣ lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tƣơng lại không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác đƣợc.
Xét theo thời gian thực hiện: Có thể phân chia các dự án đầu tƣ thành dự án đầu tƣ ngắn hạn (nhƣ dự án đầu tƣ thƣơng mại) và dự án đầu tƣ dài hạn (các dự án đầu tƣ sản xuất, đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng. Xét theo sự phân cấp quản lý dự án: Tùy theo tầm quan trọng và quy mô của dự án, dự án đầu tƣ đƣợc chia làm 4 nhóm: dự án quan trọng quốc gia (do Quốc hội quyết định chủ trƣơng đầu tƣ), dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C. Nội dung bản dự án đầu tư ngoài ngân sách: 10 z 1. Sự cần thiết phải đầu tƣ: Trên cơ sở phân tích hiện trạng, bối cảnh kinh tế xã hội của khu vực dự kiến đầu tƣ và sự phù hợp với định hƣớng phát triển kinh tế xã hội trong tƣơng lai để khẳng định sự cần thiết phải tiến hành đầu tƣ dự án.
Dự kiến về địa điểm xây dựng: Phân tích lý do lựa chọn địa điểm xây dựng trên cơ sở phù hợp với quy hoạch, thuận tiện giao thông, có cảnh quan, điều kiện tự nhiên hoặc có vùng nguyên liệu phù hợp với tính chất của dự án. Dự kiến về quy mô đầu tƣ: Căn cứ vào quy mô nguồn vốn, nhu cầu thị trƣờng, khả năng cung ứng nguồn tài nguyên, nguyên liệu để trên cơ sở đó dự kiến quy mô, công suất dự án cho phù hợp. Phân tích thị trƣờng sản phẩm, dịch vụ của dự án: Nghiên cứu sản phẩm đầu ra của dự án có đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng và của khách hàng hay không; sản phẩm phục vụ cho đối tƣợng khách hàng nào; khách hàng thƣờng xuyên hay khách hàng theo mùa vụ. Trên cơ sở phân tích thị trƣờng, Nhà đầu tƣ mới quyết định đầu tƣ với quy mô phù hợp.