CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM ĐỊNH CHO VAY NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng thương mại: 1.1 Khái niệm: Có nhiều loại tín dụng, như là tín dụng nhà nước do nhà nước cấp, tín dụng thương mại do doanh nghiệp cấp, tín dụng ngân hàng do ngân hàng cấp… theo Nguyễn Văn Tiến (2015). Toàn tập Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 282 đã đưa ra khái niệm: “Tín dụng ngân hàng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng: Nguyễn Văn Tiến (2015). Toàn tập Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Lao Động, Hà Nội, 283 - 285. Thứ nhất, tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn; còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong tương lai để trả nợ gốc và lãi vay. Đây là đặc điểm quan trọng nhất, từ đó tạo ra các đặc điểm tiếp theo. Do đó, trong các quyết định cho vay, ngân hàng sắp xếp thứ tự ưu tiên của các tiêu chí như sau: - Tín nhiệm (uy tín, thiện chí) của người vay. - Tính khả thi của dự án (phương án kinh doanh).
- Bảo đảm tiền vay. Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn hay có tính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 hoàn trả. Ngân hàng là trung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn lưu động. Để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay.
Nếu ngân hàng có nguồn vốn dài hạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại nếu nguồn vốn không ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanh khoản. Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay ngắn hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng. Ngược lại nếu thời hạn cho vay dài hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng.
Việc hoàn trả nợ vay thể hiện giai đoạn kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng. Sau khi vốn tín dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất kinh doanh, trở về hình thái tiền tệ thì vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả cho người cho vay. Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc không chỉ hoàn trả gốc mà phải cả lãi. Nếu không có sự hoàn trả thì không được coi là tín dụng.
Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng còn phải trả cho ngân hàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay. Khoản lãi phải bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng. Việc đánh giá độ an toàn của hồ sơ vay vốn là rất khó.
Vì luôn tồn tại thông tin bất cân xứng dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Ngoài ra việc thu hồi tín dụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thiên tai… Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 doanh thay đồi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Thứ năm, tín dụng phải dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sơ những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh… trong đó bên đi vay (và bên bảo lãnh nếu có) phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn.
Từ những đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được hai nguyên tắc cơ bản sau: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích. - Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng.2 Công tác thẩm định tín dụng tại các Ngân hàng thương mại: Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2013). Giáo trình Thẩm định tín dụng, Nhà xuất bản Kinh Tế TP.Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 16 – 21.1 Khái niệm thẩm định tín dụng: “Thẩm định tín dụng là quá trình tổ chức thu thập và xử lý thông tin thông qua việc sử dụng kỹ thuật để phân tích, đánh giá khách hàng một cách đầy đủ, thống nhất và tuân thủ quy định pháp luật nhằm làm cơ sở đưa ra quyết định cấp tín dụng”. Có thể nói thẩm định tín dụng là yêu cầu khách quan trong nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM.
Thẩm định tín dụng thực hiện toàn bộ các công việc đánh giá một cách toàn diện và khách quan về khách hàng qua các mặt như: Năng lực pháp lý, khả năng trả nợ, tính khả thi và hiệu quả của phương án hoặc dự án cho vay, mục đích vay, tài sản bảo đảm… trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Mục đích, yêu cầu và cơ sở của thẩm định tín dụng: Mục đích thẩm định: - Nhằm đánh giá trung thực, khách quan mọi hoạt động của khách hàng. Thẩm định tư cách pháp lý, năng lực trả nợ, tình hình tài sản bảo đảm, mục đích cấp tín dụng… làm cở sở lựa chọn khách hàng cấp tín dụng cũng như đưa ra quyết định chọn sản phẩm tín dụng phù hợp với khách hàng, với chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm đảm bảo quyền lợi của đội bên. - Xác định rõ số tiền, thời hạn cấp tín dụng và các điều kiện cụ thể cho từng loại sản phẩm vay một cách hợp lý, cũng như việc định kỳ hạn nhằm đảm bảo phù hợp với thời điểm khách hàng có đủ khả năng trả nợ.
- Đánh giá chính xác nguồn trả nợ, đồng thời phải phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng. - Là cơ cở tham gia góp ý, tư vấn cho khách hàng, tạo tiền đề để khách hàng đảm bảo hiệu quả cho vay, thu được nợ gốc đúng hạn; hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng. - Là cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, dự kiến tiến độ giải ngân, mức thu nợ hợp lý, , các điều kiện cho vay, tạo tiền đề cho khách hàng hoạt động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu đầu tư của ngân hàng. - Dự trù những khả năng có thể dẫn đến rủi ro khách hàng không đủ khả năng trả nợ, để từ đó gân hàng chủ động kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn tín dụng của khách hàng: xây dựng phương án quản lý nợ và xử lý nợ hiệu quả phù hợp với từng khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng.
Yêu cầu thẩm định: - Để đảm bảo chất lượng, công tác thẩm định phải được tiến hành một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 cách trung thực và khách quan trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật. - Ngân hàng phải xây dựng quy trình thẩm định một cách khoa học hợp lý, phù hợp đặc điểm kinh doanh của từng ngân hàng, cơ cấu tổ chức hoạt động của ngân hàng và phân quyền cấp tín dụng của các cấp lãnh đạosở gaio dịch, chi nhánh, phòng giao dịch. - Phân công trách nhiệm công việc thẩm định cần phải tuân thủ quy trình thẩm định phù hợp với trình độ và kinh nghiệm của nhân viên, đồng thời thiết lập hệ thống kiểm tra giám sát chặt chẽ nhằm tránh tình trạng nhân viên thẩm định thông đồng với khách hàng, bóp mép thông tin, lập hồ sơ giả… để vay vốn ngân hàng dẫn đến rủi ro tín dụng. - Tư vấn cho khách hàng những vấn đề liên quan đến việc thực hiện phương án/dự án hoặc thông tin một cách chính xác và trung thực khi khách hàng có yêu cầu.
- Để đánh giá chính xác khách hàng, ngân hàng ứng dụng hệ thống xếp hạng nội bộ trong công tác thẩm định. Trên cơ sơ tổng hợp điểm tính cho các tiêu chí tài chính và phi tài chính của khách hàng, ngân hàng xếp hạng tín dụng gồm 10 loại như sau: AAA, AA. A; BBB, BB, B; CCC, CC, C; D, Dựa vào kết quả xếp hạng, ngân hàng xây dụng chính sách tín dụng hợp lý cho các nhóm khách hàng cụ thể: hạn mức tín dụng. lãi suất, mức ký quỹ L/C, tài sản bảo đảm… Đây là cơ sở quan trọng để ngân hàng đưa ra quyết định cấp tín dụng phù hợp cho từng khách hàng.
Cơ sở thẩm định tín dụng: Để tiến hành thẩm định tín dụng, cán bộ tín dụng thu thập và phân tích thông tin từ các nguồn sau: - Thông tin từ hồ sơ khách hàng cung cấp. - Thông tin thẩm định trực tiếp tại địa chỉ khách hàng (trụ sở chính, địa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 điểm sản xuất kinh doanh, địa điểm làm việc…). - Thông tin từ cuộc phỏng vấn khách hàng. - Thông tin từ bên ngoài (các phương tiện thông tin đại chúng, đối tác/đối thủ của khách hàng, thông tin CIC, cơ quan thuế, hải quan, các tổ chức tín dụng…).3 Quy trình thẩm định tín dụng: - Tiếp nhận hồ sơ xin cấp tín dụng: nhân viên tín dụng hướng dẫn khách hàng các hồ sơ thủ tục vay vốn và tiếp nhận hồ sơ của khách hàng theo đúng quy định của ngân hàng.