Tổng quan nghiên cứu

Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đang gia tăng áp lực nặng nề lên các dải ven biển miền Trung Việt Nam, trong đó tỉnh Bình Định với 134 km bờ biển thường xuyên hứng chịu bão lũ và sạt lở nghiêm trọng. Số liệu thống kê toàn tỉnh ghi nhận hơn 20.400 hộ dân với 86.000 nhân khẩu tại 110 xã, phường nằm trong khu vực nguy hiểm do thiên tai đe dọa, riêng áp lực từ triều cường ven biển uy hiếp trực tiếp đến 3.634 nhân khẩu. Tại huyện Phù Mỹ, bờ biển dài 40 km ghi nhận hiện tượng xâm thực sâu vào đất liền từ 1 đến 3 mét mỗi năm, đe dọa trực tiếp đời sống của hàng trăm hộ dân tại các xã ven biển.

Trước thực trạng cấp bách đó, dự án di dân tái định cư ra khỏi vùng thiên tai triều cường huyện Phù Mỹ được triển khai với quy mô quy hoạch 646 hộ dân và tổng nguồn vốn đầu tư hạ tầng vượt 46,3 tỷ đồng. Mặc dù công tác di dời giúp bảo đảm an toàn tính mạng, quá trình chuyển đổi không gian sống đã làm xáo trộn sâu sắc sinh kế truyền thống của cư dân. Đề tài tập trung phân tích thực trạng sinh kế của các hộ dân trước và sau khi chuyển đến 4 khu tái định cư tại các xã Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức và Mỹ Thắng trong giai đoạn 2012 - 2015.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện sự biến động của năm nguồn vốn sinh kế, nhận diện các rào cản và bất cập trong chính sách bồi thường, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao tính bền vững cho đời sống người dân. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nguồn vốn ngân sách, giảm thiểu rủi ro tái nghèo cho hơn 640 hộ dân tái định cư và cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản lý công tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework - SLF) do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2001) khởi xướng, kết hợp cùng nền tảng lý thuyết sinh kế của Robert Chambers và Gordon Conway (1992). Khung phân tích này tiếp cận toàn diện năm nguồn vốn sinh kế căn bản của hộ gia đình: vốn nhân lực (học vấn, kỹ năng, sức khỏe), vốn xã hội (mối quan hệ cộng đồng, tổ chức đoàn thể), vốn tự nhiên (đất đai, nguồn nước, tài nguyên biển), vốn vật chất (nhà ở, trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật) và vốn tài chính (tiền mặt, thu nhập, tín dụng).

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết di dân tái định cư và Chính sách an toàn tái định cư không tự nguyện OP 4.12 của Ngân hàng Thế giới. Các chính sách này nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo mức sống và điều kiện sản xuất của người dân sau tái định cư phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nghiên cứu cũng chuẩn hóa các khái niệm then chốt gồm sinh kế bền vững, bồi thường giải phóng mặt bằng, chiến lược sinh kế và ngữ cảnh dễ bị tổn thương dưới khung pháp lý của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu bao gồm nguồn thứ cấp từ các báo cáo kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Định giai đoạn 2011 - 2015, kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp tại thực địa.

Cỡ mẫu được xác định khoa học theo công thức chọn mẫu của Taro Yamane (1967) với mức sai số e = 8% trên tổng thể N = 646 hộ dân thuộc diện tái định cư:

$$n = \frac{N}{1 + N(e)^2} = \frac{646}{1 + 646 \times (0,08)^2} \approx 180 \text{ hộ}$$

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất phân tầng, phân bổ đều 180 phiếu khảo sát tại 4 khu tái định cư: Mỹ An (45 hộ trên tổng số 174 hộ), Mỹ Thọ (45 hộ trên 167 hộ), Mỹ Đức (45 hộ trên 156 hộ) và Mỹ Thắng (45 hộ trên 149 hộ).

Song song với điều tra định lượng, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu định tính đối với 5 hộ dân, 5 trưởng thôn và 3 cán bộ lãnh đạo chính quyền địa phương. Toàn bộ dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, kiểm định so sánh trước - sau tái định cư được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ sụt giảm tài nguyên đất đai và biến động thu nhập của các hộ gia đình trong giai đoạn 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế 180 hộ dân tại 4 khu tái định cư ghi nhận sự suy giảm mạnh mẽ về nguồn vốn tự nhiên. Trước tái định cư, diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 0,9 ha/hộ, trong đó 48,33% hộ sở hữu từ 0,5 đến 1 ha và 10,01% hộ sở hữu trên 1 ha. Sau khi di dời, quỹ đất canh tác bình quân sụt giảm 33,33%, chỉ còn 0,6 ha/hộ. Tỷ lệ hộ sở hữu dưới 0,5 ha tăng vọt từ 41,66% lên 66,66% (120 hộ), trong khi nhóm hộ sở hữu trên 1 ha thu hẹp chỉ còn 1,67% (3 hộ) do định mức giao đất mới chỉ đạt khoảng 500 m2/khẩu.

Về nguồn vốn nhân lực, cơ cấu chủ hộ phản ánh tính chất truyền thống với 88,9% là nam giới (160 hộ) và 11,1% là nữ giới (20 hộ). Độ tuổi lao động chính tập trung từ 36 đến 50 tuổi (chiếm 50,0%) và từ 25 đến 35 tuổi (chiếm 28,3%). Trình độ học vấn của lực lượng lao động còn thấp khi bậc trung học cơ sở chiếm 37,2% (67 hộ), trung học phổ thông chiếm 35,0% (63 hộ), tiểu học chiếm 16,1% và tỷ lệ mù chữ chiếm 11,7% (21 hộ). Cơ cấu nghề nghiệp vẫn phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp với 61,1% hộ thuần nông (110 hộ), 20,0% hộ kinh doanh dịch vụ và 18,9% làm các ngành nghề tự do.

Về vốn vật chất và tài chính, dự án đã bàn giao đất và có 351/566 lô đất xây dựng nhà kiên cố (đạt tỷ lệ 62,0%), hệ thống hạ tầng điện, đường, trường học và nhà văn hóa khang trang hơn nơi ở cũ. Tuy nhiên, việc sử dụng tiền bồi thường còn nhiều bất cập khi phần lớn hộ dân chỉ gửi tiết kiệm ngân hàng lấy lãi hoặc chi tiêu mua sắm sinh hoạt, thiếu năng lực chuyển đổi vốn thành các hoạt động đầu tư tạo dòng tiền ổn định.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự sụt giảm nguồn lực tự nhiên xuất phát từ giới hạn quỹ đất tại các khu tái định cư duyên hải và hệ thống kênh mương nội đồng phục vụ tưới tiêu bị hư hỏng, chưa được hoàn thiện đồng bộ. Điều này gây đứt gãy hoạt động trồng trọt truyền thống (lúa, ngô, đậu phụng) của 110 hộ thuần nông. Khi mất đi 33,33% diện tích đất sản xuất nhưng không được trang bị kỹ năng nghề mới, lực lượng lao động lớn tuổi rơi vào tình trạng thiếu việc làm cục bộ.

Kết quả nghiên cứu tại Phù Mỹ hoàn toàn tương đồng với các phát hiện trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005) tại 7 tỉnh thành và nghiên cứu của Phạm Minh Hạnh (2009) tại Sơn La, khẳng định nghịch lý: điều kiện nhà ở vật chất được nâng cấp nhưng an ninh thu nhập có nguy cơ suy giảm nếu thiếu chiến lược chuyển đổi nghề.

Trong các báo cáo phân tích, dữ liệu biến động đất đai trước và sau tái định cư được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột kép thể hiện tỷ lệ % dịch chuyển quy mô diện tích canh tác, kết hợp cùng biểu đồ tròn phân bổ học vấn nhằm làm nổi bật điểm nghẽn về chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiến tạo sinh kế bền vững cho các hộ dân tái định cư, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm với mục tiêu và lộ trình thực thi cụ thể:

Thứ nhất, tối ưu hóa và chuyển đổi nguồn lực tự nhiên. Ủy ban nhân dân huyện Phù Mỹ cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần hoàn thành việc nâng cấp, kiên cố hóa 100% hệ thống kênh mương thủy lợi nội đồng tại các xã Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức trong giai đoạn 2016 - 2018. Song song đó, tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng chịu hạn trên đất cát, ứng dụng kỹ thuật thâm canh để nâng giá trị sản xuất nông nghiệp thêm 15% đến 20% trên diện tích 0,6 ha hiện có của mỗi hộ.

Thứ hai, đào tạo nghề và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trung tâm Dạy nghề huyện Phù Mỹ chủ trì phối hợp với chính quyền 4 xã tổ chức các khóa đào tạo nghề phi nông nghiệp, kỹ thuật chế biến thủy sản và dịch vụ thương mại biển cho 100% lao động trong độ tuổi 25 - 50. Mục tiêu đặt ra trong vòng 24 tháng là chuyển dịch thành công ít nhất 20% lao động thuần nông sang lĩnh vực dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp, giảm tỷ lệ thuần nông từ 61,1% xuống dưới 45%.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả quản trị nguồn lực tài chính. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện thiết lập các gói tín dụng ưu đãi với lãi suất dưới 6%/năm nhằm hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh cho 180 hộ dân. Đồng thời, chính quyền cơ sở thành lập tổ tư vấn tài chính cộng đồng nhằm hướng dẫn người dân quản lý tiền bồi thường, chuyển hướng từ gửi tiết kiệm thụ động sang đầu tư mô hình kinh tế hộ gia đình trước năm 2019.

Thứ tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng vật chất và chính sách hỗ trợ. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và huyện Phù Mỹ tập trung tháo gỡ dứt điểm nút thắt giải phóng mặt bằng tại khu tái định cư xã Mỹ Thắng, đẩy nhanh tiến độ cấp đất để nâng tỷ lệ lấp đầy nhà ở tại các khu tái định cư từ 62,0% lên 100% trước năm 2018. Đảm bảo các trạm y tế và trường học trên địa bàn duy trì chuẩn quốc gia nhằm nâng cao chất lượng sống lâu dài cho cư dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có thêm cơ sở khoa học để rà soát quy trình lập dự án bồi thường, bố trí quỹ đất và lồng ghép chính sách tạo việc làm theo Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP.

Ban quản lý dự án tái định cư và phát triển nông thôn: Các chủ đầu tư hạ tầng có thể ứng dụng Khung phân tích sinh kế bền vững DFID vào việc thiết kế các hợp phần hỗ trợ phi vật chất, kiểm soát tiến độ giải ngân 46,3 tỷ đồng và theo dõi chỉ số phục hồi mức sống của cộng đồng dân cư.

Các tổ chức phi chính phủ và viện nghiên cứu biến đổi khí hậu: Cung cấp bộ dữ liệu thực địa tin cậy từ 180 hộ gia đình tại 4 xã ven biển Bình Định, làm tài liệu tham khảo giá trị cho các chương trình nâng cao năng lực thích ứng với thiên tai và bảo vệ sinh kế cộng đồng ven biển miền Trung.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế phát triển: Nguồn tài liệu học thuật chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp mô hình chọn mẫu Taro Yamane và kỹ thuật xử lý dữ liệu SPSS trong đánh giá tác động của chính sách công.

Câu hỏi thường gặp

Khung phân tích sinh kế DFID được áp dụng trong luận văn đánh giá những khía cạnh nào? Khung DFID đánh giá 5 nguồn vốn: nhân lực, tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội. Nghiên cứu chỉ ra sự mất cân đối khi vốn vật chất tăng lên với 62,0% nhà ở kiên cố nhưng vốn tự nhiên suy giảm mạnh khi diện tích đất canh tác bình quân giảm từ 0,9 ha xuống 0,6 ha/hộ.

Tại sao các hộ dân tái định cư huyện Phù Mỹ gặp khó khăn trong việc chuyển đổi ngành nghề? Do rào cản từ vốn nhân lực với 37,2% lao động chỉ đạt trình độ trung học cơ sở và 11,7% mù chữ. Tỷ lệ thuần nông chiếm tới 61,1% (110 hộ), khiến người dân thiếu kỹ năng phi nông nghiệp để thích ứng khi quỹ đất sản xuất bị thu hẹp sau tái định cư.

Dự án tái định cư triều cường tại huyện Phù Mỹ đã đạt được những kết quả nổi bật nào? Dự án đã đầu tư hơn 46,3 tỷ đồng hoàn thiện cơ sở hạ tầng, bố trí đất cho 565 hộ và hoàn thành xây dựng 351 căn nhà kiên cố. Toàn bộ các hộ di dời đã thoát khỏi vùng xâm thực biển nguy hiểm từ 1 đến 3 mét mỗi năm, ổn định chỗ ở an toàn.

Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu có bảo đảm tính đại diện khoa học không? Nghiên cứu áp dụng công thức Taro Yamane với mức sai số e = 8% trên tổng thể 646 hộ, xác định quy mô mẫu 180 hộ. Phương pháp chọn mẫu xác suất phân tầng chia đều 45 hộ cho mỗi xã (Mỹ An, Mỹ Thọ, Mỹ Đức, Mỹ Thắng) kết hợp phỏng vấn sâu 13 cán bộ và người dân, đảm bảo độ tin cậy cao.

Giải pháp tài chính nào giúp người dân tái định cư phát triển kinh tế bền vững? Giải pháp then chốt là thành lập tổ tư vấn quản lý tài chính cộng đồng và cung cấp nguồn vốn vay ưu đãi lãi suất dưới 6%/năm từ Ngân hàng Chính sách Xã hội, giúp 180 hộ dân chuyển đổi tiền đền bù sang vốn đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ hiệu quả.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu khoa học và thực tiễn đề ra với 5 đóng góp cốt lõi:

  • Lượng hóa rõ nét sự dịch chuyển của 5 nguồn vốn sinh kế tại 4 khu tái định cư ven biển huyện Phù Mỹ thông qua khảo sát 180 hộ dân.
  • Chỉ ra thách thức suy giảm 33,33% diện tích đất nông nghiệp bình quân và điểm nghẽn học vấn khi 61,1% hộ vẫn phụ thuộc vào thuần nông.
  • Đánh giá khách quan thành tựu kiên cố hóa nhà ở đạt 62,0% trên tổng số 566 lô đất được cấp cùng hệ thống hạ tầng trị giá hơn 46,3 tỷ đồng.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp nâng cấp hạ tầng thủy lợi, đào tạo nghề và hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi.
  • Đề xuất lộ trình thực thi chính sách cụ thể giai đoạn 2016 - 2020 nhằm đảm bảo mục tiêu an cư gắn liền với lạc nghiệp bền vững.

Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay khung phân tích và các khuyến nghị chính sách từ luận văn để nâng cao hiệu quả các dự án di dân vùng thiên tai trên toàn quốc.