Chương 1 nêu Tổng quan và vấn đề chính sách, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi chính sách. Chương 2 trình bày Cơ sở lý thuyết, gồm các khái niệm, khung phân tích và kết quả những nghiên cứu liên quan. Chương 3 là Thiết kế nghiên cứu, gồm chọn điểm nghiên cứu, cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu; phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu. Kết quả nghiên cứu được trình bày ở Chương 4.
Và Chương 5 là Kết luận và kiến nghị chính sách. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.1 Các khái niệm Sinh kế: Bao gồm con người, khả năng của mình và các phương tiện của cuộc sống, bao gồm thực phẩm, thu nhập và tài sản. Tài sản hữu hình là nguồn tài nguyên và các khoản dự trữ, và tài sản vô hình là tiếng nói và khả năng tiếp cận.
Sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi từ sự căng thẳng và các cú sốc, duy trì hoặc tăng cường khả năng về tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp, góp phần lợi ích ròng đối với sinh kế khác ở cấp độ địa phương và toàn cầu trong cả ngắn hạn và dài hạn (Chambers, R. Hộ gia đình tái định cư: Là hộ dân (bao gồm hộ một người hoặc hộ có từ hai người trở lên) và tổ chức hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, ở trong vùng Dự án thủy điện Sơn La bị ảnh hưởng trực tiếp, phải di chuyển đến nơi ở mới3. Hộ gia đình tái định cư nông nghiệp: Là hộ có một trong các điều kiện như: có lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản hoặc đang sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản. Hộ gia đình tái định cư tập trung: Là hộ gia đình được quy hoạch đến ở một nơi ở mới tạo thành điểm dân cư mới.
Vùng tái định cư: Là địa bàn các huyện, thị xã được quy hoạch để tiếp nhận dân tái định cư. Trong vùng tái định cư có ít nhất một khu tái định cư. Khu tái định cư: Là địa bàn được quy hoạch để bố trí các điểm tái định cư, hệ thống cơ sở hạ tầng, công trình công cộng, vùng sản xuất. Trong khu tái định cư có ít nhất một điểm tái định cư.
Điểm tái định cư: Là điểm dân cư được xây dựng theo quy hoạch, bao gồm đất ở, đất sản xuất, đất chuyên dùng, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình công cộng để bố trí dân tái định cư. 3 Các khái niệm trên được trích từ Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg, ngày 09/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Khung sinh kế bền vững của DFID Khung phân tích sinh kế là công cụ được sử dụng để đánh giá, phân tích sinh kế của người dân. Khi dùng khung phân tích sinh kế, sẽ nắm vững các yếu tố tác động đến sinh kế của người dân cùng những tác động qua lại giữa những yếu tố tạo nên sinh kế.1: Khung sinh kế bền vững Ghi chú: H: Nguồn vốn con người P: Nguồn vốn vật chất N: Nguồn vốn tự nhiên F: Nguồn vốn tài chính S: Nguồn vốn xã hội TÀI SẢN SINH KẾ Chính sách cơ Kết quả sinh kế quan, thủ tục H Cơ quan + Thu nhập tăng Bối cảnh dễ Ảnh hưởng + Các cấp CÁC + Đời sống bị tổn thương S N CHIẾN nâng cao và các chính quyền LƯỢC + Các cú sốc nguồn + Lĩnh vực + Tính bền SINH + Các xu hướng tiếp cận tư + Luật vững cao P F KẾ + Đảm bảo an + Tính mùa vụ + Chính sách ninh lương thực + Thể chế + Sử dụng đất Thực hiện lâu dài Nguồn: DFID (1999), Sustainable Livelihoods Framework Khung sinh kế bền vững được xây dựng xung quanh năm loại tài sản chính của đời sống, đó là nguồn vốn con người, nguồn vốn tự nhiên, nguồn vốn vật chất, nguồn vốn tài chính và nguồn vốn xã hội4.
Nó được mô tả như hình ngũ giác để nhấn mạnh mối liên kết giữa chúng và thực tế là sinh kế phụ thuộc vào sự kết hợp của các tài sản khác nhau, không chỉ từ một loại tài sản nào. Một phần quan trọng của việc phân tích là để tìm ra cách người dân tiếp cận các loại tài sản và khả năng của họ để sử dụng hiệu quả những tài sản này. 4 Xem chi tiết 5 loại tài sản sinh kế tại Phụ lục 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Khung cũng cung cấp một cách đánh giá làm cách nào các tổ chức, chính sách, thể chế, chuẩn mực văn hóa tạo hình sinh kế, cả hai bằng cách xác định tiếng nói, loại hình tài sản và xác định những chiến lược sinh kế hấp dẫn người dân (Carney, 1998). Giá trị của việc sử dụng khung sinh kế, theo DFID, là nó khuyến khích người sử dụng có một cái nhìn rộng và có hệ thống các yếu tố gây ra nghèo đói - cho dù đó là những cú sốc và xu hướng bất lợi, thể chế nghèo nàn và các chính sách, hoặc thiếu cơ bản những tài sản, và điều tra mối liên quan giữa chúng.
Nó không đưa ra cái nhìn về nghèo đói, nhưng cố gắng để dung hòa sự đóng góp của tất cả các lĩnh vực để xây dựng tích lượng các tài sản mà người dân rút ra để duy trì sinh kế của họ. Mục đích là để loại bỏ các quan niệm trước về những gì chính xác con người tìm kiếm và làm thế nào họ có nhiều khả năng đạt được mục tiêu của mình.3 Các nghiên cứu liên quan Nghiên cứu "Involuntary Rural Resettlement: Resources, Strategies, and Outcomes at the Three Gorges Dam, China" của Brooke Wilmsen, Michael Webber và Yuefang Duan (2011), đã phân tích những tác động của tái định cư các hộ gia đình làm nghề nông ở hai ngôi làng trong khu vực bị ngập do đập Tam Hiệp, Trung Quốc. Nghiên cứu cũng đề xuất một khuôn khổ kinh tế - chính trị, trong đó để hiểu về chương trình tái định cư và tác động của nó đối với các hộ gia đình. Các hộ gia đình đã mang đến một loạt các nguồn lực vào việc tái định cư như đất đai, tiết kiệm, lao động, quan hệ xã hội, và nguồn tài nguyên trở nên khan nhiếm trong quá trình tái định cư.
Ngoài việc vay mượn, chủ yếu để tài trợ cho đầu tư lớn của nhà ở mới, phản ứng của các hộ gia đình có xu hướng phản ánh những hạn chế đối với họ bởi việc tái định cư chứ không phải là khả năng của họ để khai thác cơ hội mới. Do đó, thu nhập nông nghiệp đã giảm sau khi tái định cư, đặc biệt là ở ngôi làng, nơi phần lớn đất đã bị thu hồi. Thu nhập bị mất, trang trại đã không được tạo ra bởi sự gia tăng thu nhập phi nông nghiệp thông qua việc thanh toán hoặc tự tạo việc làm. Do đó các hộ gia đình trong hai làng đã trở nên dễ bị tổn hơn nữa trước những cú sốc đến từ bên ngoài so với họ trước khi tái định cư.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- Vương Thị Bích Thủy (2012) đã nghiên cứu về Sinh kế cho người dân bị thu hồi đất - khu kinh tế Đông Nam, Nghệ An. Đề tài nghiên cứu tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp đối với đời sống của người nông dân nhằm tìm ra giải pháp giúp sinh kế của họ được bền vững. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra, việc thu hồi đất nông nghiệp đã tạo ra cú sốc lớn đối với nông dân, phần đông số dân ở Khu kinh tế Đông Nam rơi vào tình trạng mất đất sản xuất, hay mất nghề do chuyển sang địa điểm khác. Phần lớn tài sản tự nhiên đã chuyển sang tài sản tài chính, và người dân dùng tài sản này cho mục đích làm nhà, mua sắm trang thiết bị sinh hoạt trong gia đình.
Tuy đời sống vật chất có gia tăng, nhưng chỉ mang tính thời điểm, còn về lâu dài, cuộc sống người dân rơi vào tình trạng bất ổn do mất đất sản xuất. Việc thu hồi đất đã làm ảnh hưởng tới cuộc sống sinh hoạt văn hóa của người dân. Trước đây, mặc dù thu nhập từ nông nghiệp tương đối thấp nhưng người dân vẫn có điều kiện đảm bảo khi vay mượn hay góp công, đổi việc trong những ngày mùa, tạo nên tình làng nghĩa xóm. Sau khi mất đất, việc hỗ trợ, giúp đỡ nhau trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Thời gian rảnh rỗi nhiều làm nảy sinh các tệ nạn xã hội. Hạn chế của đề tài này là khảo sát chỉ tiến hành trên một số hộ dân trong Khu kinh tế Đông Nam, sau đó dùng kết quả để suy rộng cho tổng thể, do đó đề tài chỉ mới đánh giá được những tác động của việc thu hồi đất trong ngắn hạn, chưa thể có kết luận mang tính toàn diện. Nguyễn Thị Minh Phương (2012) đã nghiên cứu về sinh kế của đồng bào dân tộc Ê Đê tại xã Eabar, huyện Buôn Đôn, Đắc Lắc. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, thách thức lớn nhất cho tài sản sinh kế của các hộ dân chính là vốn con người với sự hạn chế về trình độ học vấn, thiếu kỹ năng kỹ thuật, tiếp đó là vốn tự nhiên và vốn tài chính đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc cải thiện sinh kế cho đồng bào Ê Đê ở vùng nghiên cứu, đặc biệt là nhóm hộ nghèo và cận nghèo.
Và để cải thiện sinh kế những hộ này, cần có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Kinh nghiệm rút ra từ những nghiên cứu trước, đó là, để tìm hiểu được sinh kế của người dân tái định cư nông nghiệp tại thị xã Mườn Lay, trước hết phải khảo sát thực địa, nắm được tổng quan đời sống của nhóm người cần nghiên cứu. Từ đó thiết kế bảng hỏi, tiến hành phỏng vấn nhóm để xác định được nhóm nào bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dự án di dân, tái đính cư, phỏng vấn sâu các hộ gia đình tái định cư nông nghiệp để biết được sinh kế của họ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- CHƯƠNG 3.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Chọn điểm nghiên cứu Hình 3.1: Bản đồ thị xã Mường Lay Nguồn: http://www.com/photo Mường Lay là thị xã nhỏ nhất trong số các thị xã trên toàn quốc, có diện tích 11.255,93ha, với dân số 10. Ba đơn vị hành chính cơ sở là phường Sông Đà, phường Na Lay và xã Lay Nưa.