Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu có diện tích tự nhiên khoảng 10.537 ha, trải dài trên địa bàn 4 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là khu rừng đặc dụng ven biển duy nhất còn lại của vùng Đông Nam Bộ với hệ sinh thái động thực vật vô cùng phong phú. Tuy nhiên, quá trình di dân xây dựng vùng kinh tế mới sau năm 1975 cùng các làn sóng di cư tự phát đã hình thành 583 hộ dân sinh sống và canh tác trong lâm phần. Hiện tượng này dẫn đến 1.570 ha đất rừng tự nhiên bị lấn chiếm làm nương rẫy, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 15% tổng diện tích khu bảo tồn. Trong giai đoạn 2005 - 2014, địa bàn đã ghi nhận 1.069 vụ vi phạm lâm luật, chiếm 68% tổng số vụ vi phạm toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự xung đột gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên thiên nhiên và nhu cầu đảm bảo sinh kế cho cộng đồng dân cư bản địa. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế, phân tích tác động của các chính sách quản lý rừng đặc dụng hiện hành và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện sinh kế gắn liền với đề án di dời dân cư ra khỏi vùng lõi. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hộ dân cư trú và canh tác tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu trong mốc thời gian từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện phương án bồi thường, bố trí đất tái định cư và chuyển đổi nghề nghiệp cho 583 hộ dân, hỗ trợ nhóm 24% hộ nghèo nâng mức thu nhập thoát khỏi ngưỡng 965.000 đồng một người mỗi tháng và bảo tồn bền vững hơn 10.000 ha rừng đặc dụng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID, 2001) làm nền tảng lý thuyết chủ đạo. Khung phân tích này bao gồm 5 thành tố tương tác đa chiều: 5 nguồn vốn sinh kế (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội), bối cảnh dễ bị tổn thương (các cú sốc thời tiết, dịch bệnh, tính mùa vụ), các cơ cấu và quy trình chuyển đổi (luật pháp, chính sách quản lý của Ban Quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương), chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế đầu ra.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp các nguyên tắc trong Cẩm nang tái định cư bắt buộc của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1995) nhằm phân loại 4 nhóm thiệt hại và các biện pháp giảm thiểu tổn thương cho người bị ảnh hưởng khi nhà nước thu hồi đất rừng. Các khái niệm học thuật then chốt được chuẩn hóa bao gồm: sinh kế bền vững theo định nghĩa của Robert Chambers và Gordon Conway (1992); bối cảnh tổn thương theo GLOPP (2008); vốn con người theo định chuẩn của OECD (2001) và FAO (2005); cùng vốn tự nhiên theo Ủy ban Vốn Tự nhiên Vương Quốc Anh (2013). Tác giả cũng kế thừa các kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu của Dương Minh Ngọc (2013) về di dân định cư tại Đắk Lắk và Đỗ Vũ Gia Linh (2015) về cải thiện sinh kế tại Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2017 của huyện Xuyên Mộc, báo cáo tổng kết của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và Đề án di dời dân của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa kết hợp điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu trong thời gian 4 tháng từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018.

Quy mô cỡ mẫu điều tra chính thức gồm 38 hộ gia đình, chiếm tỷ lệ gần 6,5% trên tổng thể 583 hộ dân thuộc diện di dời. Tác giả áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng theo địa giới hành chính kết hợp phỏng vấn sâu 4 hộ thăm dò trước khi triển khai diện rộng. Cụ thể, mẫu phân bổ gồm 20 hộ tại xã Bình Châu (chiếm 4,7% số hộ khu vực), 10 hộ tại xã Bông Trang và thị trấn Phước Bửu (chiếm 10%), 3 hộ tại xã Phước Thuận (chiếm 50%) và 5 hộ tại xã Bưng Riềng (chiếm 10%). Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng và lấy mẫu đại diện 6,5% là vì các hộ dân sinh sống theo từng cụm rải rác, có cùng nguồn gốc di dân kinh tế mới và có mối quan hệ huyết thống hoặc làng xóm nên sở hữu đặc điểm sinh kế và điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng nhau.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả nhằm lượng hóa các chỉ tiêu nhân khẩu, đất đai, tài sản; kết hợp phương pháp phân tích định tính chuyên sâu để mổ xẻ tác động thể chế từ các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo UBND huyện Xuyên Mộc, Ban Quản lý Khu bảo tồn và đại diện Ban Kinh tế Ngân sách HĐND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nguồn vốn con người và giáo dục bị suy giảm nghiêm trọng. Lực lượng lao động chiếm 72% tổng nhân khẩu nhưng chất lượng lao động ở mức thấp với 76,9% người chưa qua đào tạo nghề, chỉ 23,1% có bằng cấp chuyên môn. Tỷ lệ trẻ em bỏ học sớm trong giai đoạn 2010 - 2017 lên tới 32% do đường đến trường cách xa từ 7 km đến 20 km và gia đình thiếu nhân lực sản xuất. Đồng thời, có tới 88% thanh thiếu niên không được đào tạo nghề, dẫn đến nguy cơ tiếp tục tái nghèo và bám víu vào đất rừng.

Thứ hai, cấu trúc sinh kế phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn tự nhiên với sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc. 66% hộ gia đình mưu sinh bằng nghề làm rẫy trồng điều, khoai mì, tiêu; 13% làm việc tại cơ quan xí nghiệp; 9% làm thuê mướn; 4% đánh bắt thủy sản và 8% làm các nghề thợ hồ, ve chai. Hộ khá và giàu chiếm 10% sở hữu bình quân 1,63 ha đất mỗi người với thu nhập đạt 18,65 triệu đồng một người mỗi tháng. Ngược lại, nhóm hộ nghèo chiếm 24% chỉ đạt thu nhập bình quân 965.000 đồng một người mỗi tháng, tạo ra khoảng cách chênh lệch thu nhập vượt mức 18 lần giữa nhóm giàu và nhóm nghèo.

Thứ ba, vốn vật chất và cơ sở hạ tầng thiếu hụt ở mức cực đoan. Toàn bộ 84 hộ sống trực tiếp trong rừng có tới 97,6% phải ở nhà tạm bợ (82 hộ), chỉ 2,4% có nhà kiên cố (2 hộ). Tỷ lệ tiếp cận điện lưới quốc gia là 0%, trong đó 70% hộ phải dùng bình ắc quy hoặc máy phát điện và 30% dùng đèn dầu. Về nguồn nước, 80% hộ phụ thuộc vào nước mưa và giếng đào, 20% dùng nước ao hồ tự nhiên.

Thứ tư, bế tắc trong tiếp cận vốn tài chính chính thức. 71% hộ có nhu cầu vay vốn nhưng 70% trong số đó không thể tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội (lãi suất 6% đến 10% mỗi năm) do đất ở và đất sản xuất trong rừng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp. Do đó, các hộ buộc phải vay tín dụng phi chính thức với lãi suất rất cao từ 25% đến 30% mỗi năm để chi trả chi phí sản xuất (54% cho trồng trọt, 23% cho chăn nuôi).

Thảo luận kết quả

Thực trạng sinh kế tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu bộc lộ rõ nét mâu thuẫn thể chế giữa quy chế rừng đặc dụng và an sinh xã hội. Các dữ liệu khảo sát được mô tả rõ nét qua hệ thống sơ đồ tác động chính sách và các biểu đồ cơ cấu ngành nghề. Cụ thể, biểu đồ cơ cấu lao động 72% - 28% và biểu đồ phân loại hộ nghèo 24% - hộ bình thường 66% - hộ khá 10% phản ánh tình trạng tổn thương sâu sắc trước tính mùa vụ. Có đến 80% hộ nông nghiệp chỉ có việc làm và thu nhập trong 6 đến 8 tháng mùa mưa, trong khi mùa khô đất đai khô cằn, nguồn nước cạn kiệt khiến người dân phải đi làm thuê mướn xa nhà hoặc lén lút khai thác lâm sản trái phép.

Bên cạnh đó, việc dữ liệu được trình bày thông qua các bảng phân tích mức chi trả trồng rừng theo Quyết định số 1133/QĐ-UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy đơn giá công khoán bảo vệ rừng 5 năm chỉ vỏn vẹn khoảng 5,06 triệu đồng mỗi ha. Mức thù lao này hoàn toàn không tương xứng với ngày công lao động, khiến người dân từ chối nhận khoán bảo vệ rừng. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các phát hiện của Đỗ Vũ Gia Linh (2015) tại Đồng Nai và Dương Minh Ngọc (2013) tại Đắk Lắk, khẳng định rằng nếu không giải quyết đồng bộ quyền lợi kinh tế và tư liệu sản xuất thay thế, các đề án di dời sẽ kéo dài bế tắc và người dân sẽ quay lại tái lấn chiếm đất rừng tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách giao đất ở tái định cư và đất sản xuất ngoài lâm phần. UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần phối hợp với UBND huyện Xuyên Mộc bố trí quỹ đất sạch ngoài ranh giới bảo tồn để giao đất ở kèm hạ tầng điện nước hoàn chỉnh cho 583 hộ dân, giải quyết triệt để 1.570 ha đất rừng bị lấn chiếm trước năm 2020. Chính sách bồi thường cần áp dụng giá thay thế tài sản trên đất theo khuyến nghị của Ngân hàng Phát triển Châu Á, đảm bảo người dân có đủ tư liệu sản xuất để ổn định cuộc sống.

Thứ hai, triển khai chương trình đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm phi nông nghiệp. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Xuyên Mộc chủ trì tổ chức các lớp đào tạo nghề miễn phí ngắn hạn cho nhóm 76,9% lao động chưa qua đào tạo và 88% thanh thiếu niên địa phương trong giai đoạn 2019 - 2022. Các ngành nghề đào tạo cần tập trung vào nghiệp vụ du lịch, dịch vụ nhà hàng khách sạn, sửa chữa cơ khí và chế biến nông sản công nghệ cao.

Thứ ba, thiết lập cơ chế ràng buộc chia sẻ việc làm từ 19 dự án du lịch sinh thái dưới tán rừng. Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng Ban Quản lý Khu bảo tồn khi thẩm định các dự án du lịch nghỉ dưỡng phải đưa tiêu chí bắt buộc doanh nghiệp cam kết tuyển dụng tối thiểu 40% đến 50% lao động bản địa vào các vị trí nhân viên bảo vệ, lễ tân, tạp vụ và hướng dẫn viên sinh thái.

Thứ tư, mở rộng hạn mức tín dụng chính sách ưu đãi không cần thế chấp. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Xuyên Mộc phối hợp với Hội Phụ nữ và Hội Nông dân giải ngân các gói vay vi mô với lãi suất 6% mỗi năm, hạn mức 30 triệu đến 50 triệu đồng mỗi hộ nhằm hỗ trợ 100% hộ nghèo chuyển đổi sang mô hình chăn nuôi bò sinh sản, chấm dứt hoàn toàn việc phải vay nặng lãi từ 25% đến 30% mỗi năm.

Thứ năm, thực thi hiệu quả 4 điểm mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019). Ban Quản lý Khu bảo tồn cần khẩn trương xây dựng các mô hình sản xuất nông - lâm - ngư kết hợp, phân chia tỷ lệ hưởng lợi lâm sản tăng thêm và hỗ trợ tài chính khi gặp rủi ro thiên tai để tạo động lực cho cộng đồng tích cực tham gia bảo vệ rừng bền vững.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và UBND huyện Xuyên Mộc. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén để phê duyệt, phân bổ nguồn vốn và tổ chức thực hiện Đề án di dời 583 hộ dân với tổng mức đầu tư dự kiến gần 9.000 tỷ đồng.

Nhóm thứ hai là Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia trên toàn quốc. Các đơn vị này có thể vận dụng mô hình phân tích sinh kế của DFID để đánh giá mức độ phụ thuộc tài nguyên của cư dân vùng đệm và vùng lõi, từ đó xây dựng quy chế giao khoán rừng hợp lý.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý công, Kinh tế tài nguyên và Phát triển nông thôn. Đề tài là tài liệu tham khảo mẫu mực về việc kết hợp khung lý thuyết quốc tế với phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên cỡ mẫu 38 hộ dân thực địa.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các quỹ tài trợ bảo tồn quốc tế hoạt động tại Việt Nam. Các dữ liệu về 5 nguồn vốn sinh kế và tổn thương do thiên tai là cơ sở để thiết kế các dự án tài trợ sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu cho cộng đồng dễ bị tổn thương ven biển.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến 583 hộ dân cư trú và canh tác trên 1.570 ha đất rừng Bình Châu – Phước Bửu là gì? Tình trạng này xuất phát từ chính sách đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới sau năm 1975 và làn sóng di dân tự phát từ năm 1991. Do thiếu đất ở và đất sản xuất, các hộ đã khai hoang hoặc sang nhượng rẫy trái phép nhưng chính quyền chưa kịp thời bố trí tái định cư.

Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa các nhóm hộ trong khu bảo tồn diễn ra như thế nào? Số liệu khảo sát chỉ ra sự phân hóa sâu sắc khi 10% hộ khá giàu đạt thu nhập 18,65 triệu đồng một người mỗi tháng từ vườn hồ tiêu lớn. Trong khi đó, 24% hộ nghèo chỉ đạt 965.000 đồng một người mỗi tháng do không có đất canh tác, mức chênh lệch lên tới hơn 18 lần.

Vì sao chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng trước đây không thu hút được người dân tham gia? Theo Quyết định số 1133/QĐ-UBND, mức hỗ trợ tiền công bảo vệ rừng trong 5 năm chỉ đạt khoảng 5,06 triệu đồng mỗi ha, trong khi người dân không được phép tỉa thưa hay khai thác lâm sản. Mức chi trả này không bù đắp được ngày công lao động tối thiểu.

Luật Lâm nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 mang lại những cơ hội đột phá nào cho người làm rừng? Luật Lâm nghiệp bổ sung 4 điểm mới mang tính then chốt: cho phép sản xuất nông lâm ngư kết hợp, chia sẻ lợi ích từ lâm sản tăng thêm, hỗ trợ kinh phí khôi phục khi bị thiên tai và bồi thường thiệt hại thỏa đáng khi nhà nước thu hồi rừng.

Giải pháp căn cốt nhất để thực hiện thành công đề án di dời dân cư với kinh phí gần 9.000 tỷ đồng là gì? Giải pháp cốt lõi là không chỉ hỗ trợ tiền mặt mà phải giao đất ở, đất sản xuất ngoài lâm phần kèm hạ tầng đồng bộ, kết hợp đào tạo nghề cho 76,9% lao động phổ thông để ngăn chặn nguy cơ người dân quay lại tái lấn chiếm rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế của 583 hộ dân canh tác trên 1.570 ha đất Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu.
  • Phát hiện những điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng với 97,6% nhà ở tạm bợ, 0% điện lưới và 70% hộ chịu gánh nặng vay lãi tín dụng đen từ 25% đến 30% mỗi năm.
  • Làm rõ tính mùa vụ khi 80% hộ nông nghiệp chỉ có thu nhập trong 6 đến 8 tháng mùa mưa, thúc đẩy các hành vi lấn chiếm rừng trái phép.
  • Đề xuất giải pháp giao đất tái định cư gắn liền đào tạo nghề cho 76,9% lao động và ưu tiên tuyển dụng vào 19 dự án du lịch sinh thái.
  • Vận dụng 4 cơ chế mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017 nhằm giải quyết hài hòa bài toán an sinh xã hội và bảo tồn 10.537 ha rừng tự nhiên.

Về lộ trình tiếp theo trong giai đoạn 2019 - 2025, các cơ quan ban ngành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần khẩn trương bố trí ngân sách, rà soát quỹ đất tái định cư và thực hiện đồng bộ các gói hỗ trợ việc làm. Kính mời các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và độc giả quan tâm tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để cùng đóng góp giải pháp hoàn thiện chính sách sinh kế và bảo tồn rừng đặc dụng tại Việt Nam.