CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CÔNG TÁC LẬP DỰ ÁN DAU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án dau tư Khái niệm dự án đầu tư có thể được hiểu trên rất nhiều góc độ khác nhau: Có định nghĩa cho rằng “Dự án là một tập hợp các hoạt động liên quan với nhau được kê hoạch hóa nhăm đạt được các mục tiêu đã định, băng việc tạo ra các kêt quả cụ thê, trong một thời gian nhât định, thông qua việc sử dụng các nguôn lực xác định”. Trên một góc độ tổng quát nhất thì dự án có thé được hiểu là “hệ thống các công việc được xác định rõ mục tiêu, nguồn lực cũng như thời gian bắt đầu và kết thúc.
Nói cách khác, dự án là một quá trình hoạt động đã xác định rõ mục tiêu cần phải đạt được trong những ràng buộc nhất định về thời gian và nguồn lực dé đạt mục tiêu đó”. Theo Luật Đầu tư 2020: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn đê tiên hành các hoạt động đâu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thê, trong khoảng thời gian xác định”. Về mặt hình thức: “Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tai liệu trình bày một cách chi tiét và có hệ thông các hoạt động và chi phí theo một kê hoạch nham đạt được những ket quả và thực hiện được những mục tiêu nhât định trong tương lai”. Xét trên góc độ quản lý: “Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vôn, vật tư, lao động đê tạo ra các kêt quả tài chính, kinh tê xã hội trong một thời gian dài”.
Trên góc độ kế hoạch hoá thì “Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chỉ tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tai trợ”. Theo góc độ này, dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung (Một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời ký có thé thực hiện nhiều dự án). Xét về mặt nội dung thì dự án đầu tư lại là “tổng thé các hoạt động và chi phí cần thiết, được bồ trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai”. Khái niệm về dự án đâu tr xây dựng Theo Khoản 15 Điều 3 của Luật Xây dựng năm 2014 có đưa ra khái niệm như sau: “Dự an đầu tư xây dung là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn dé tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phâm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Công dụng của một dự án dau tư xây dựng - Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước và các định chế tài chính: “Dự án đầu tư xây dựng là cơ sở đê thâm tra câp giây chứng nhận đâu tư, thâm định đê châp thuận sử dụng vôn nha nước, đê ra quyết định dau tư, quyét định tài tro von cho dự án.” - Đối với chủ đầu tư: “+ Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng nhất dé quyết định bỏ vốn dau tư. + Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và cấp giấy phép lao động. + Dự án đầu tư là cơ sở để xin phép được nhập khẩu máy móc thiết bị, xin hưởng các khoản ưu đãi trong đâu tư.
+ Là phương tiện đê tìm đôi tác liên doanh trong và ngoài nước bỏ vôn đâu tư. + Là phương tiện thuyết phục các tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn. + Là căn cứ quan trọng dé xem xét giải quyết các mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia liên doanh, giữa liên doanh và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là cơ sở pháp lý đê xét xử khi có tranh châp giữa các bên tham gia liên doanh.
Đặc trưng của một dự án đầu tư Dự án đâu tư xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau: “- Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng. - Tính duy nhất của sản phẩm, mỗi dự án đầu tư xây dựng đều cho một sản phâm cụ thê và duy nhât. - Mỗi dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rất rõ ràng, tức là thời gian quản lý dự án có thê xác định được và chỉ xảy ra một lân. - Dự án có sự tham gia của nhiêu bên như: chủ dau tư, nhà thâu, cơ quan cung câp dịch vụ trong đâu tư, cơ quan quản lý nhà nước.
- Môi trường hoạt động của dự án là: va chạm, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác. - Dự án có tính bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đâu tư phát triên. Phân loại dự án dau tư xây dựng Về cơ bản cách phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình được xác định dựa theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 15/2021/NĐ-CP về Quy định chỉ tiết một số nội dung về quản lý đầu tư xây dựng. Cụ thể như sau: - Theo công năng phục vụ của dự án, tính chất chuyên ngành, mục đích quản lý của công trình thuộc dự án, dự án đâu tư xây dựng được phân loại như sau: + Dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng + Dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp + Dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật + Dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông + Dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ nông nghiệp và phát triển nông thôn + Dự án đầu tư xây dựng công trình quốc phòng, an ninh + Dự án đầu tư xây dựng có công năng phục vụ hỗn hợp bao gồm các dự án dau tư xây dựng khu đô thị, hạ tang kỹ thuật khu đô thị,.
- Theo nguôn vôn sử dụng, hình thức đâu tư, dự án đâu tư xây dựng được phân loại gôm: dự án sử dụng vôn đâu tư công, dự án sử dụng vôn nhà nước ngoài đâu tư công, dự án PPP và dự án sử dụng vôn khác. - Theo quy mô, tính chất và loại công trình chính của dự án: + Dự án quan trọng quốc gia; + Dự án đầu tư xây dựng công trình nhóm A; + Dự án đầu tư xây dựng công trình nhóm B; + Dự án đầu tư xây dựng công trình nhóm C. Cơ sở lý luận về lập dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm về lập dự án đầu tư xây dựng Có thể hiểu lập dự án đầu tư là “tập hợp các hoạt động xem xét, chuẩn bị, tính toán toàn điện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường pháp lý,.
trên cơ sở đó xây dựng một kế hoạch hoạt động phù hợp nhằm thực hiện một dự án đầu tư”. Theo một định nghĩa khác, thì “Lập dự án đầu tư là việc xây dựng và trình bày một cách chi tiệt có hệ thông các hoạt động và chi phí theo một kê hoạch đê đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai”. Quá trình lập dự án đầu tư được coi là một quá trình phát triển từ việc hình thành các ý tưởng đầu tư cho đến việc xây dựng một kế hoạch chi tiết nhằm biến ý tưởng đó thành hiện thực. Quá trình này được thé hiện qua nhiều cấp độ khác nhau được thé hiện ở các bước nghiên cứu cơ hội đầu tư, nghiên cứu tiền khả thi va nghiên cứu khả thi như đã đề cập phía trên.
Có thể xem xét quá trình lập dự án thông qua việc nghiên cứu khái niệm lập dự án sản xuất kinh doanh. Theo Điều 3 Luật Xây dựng 2014 thì “Lập dự án đầu tư xây dựng gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tẾ - kỹ thuật đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị đầu tư xây dựng”. Cu thé, cting theo điều luật trên: - Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng là “tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu sơ bộ về sự cân thiệt, tính khả thi và hiệu quả của việc dau tư xây dựng, làm cơ sở xem xét, quyêt định chủ trương đâu tư xây dựng”. - Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng là “tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương án thiết kế cơ sở được lựa chọn, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng”.
- Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng là “tài liệu trình bày các nội dung về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương án thiết kế bản vẽ thi công xây dựng công trình quy mô nhỏ, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng”. Các phương pháp được sử dụng trong lập dự án đầu tư xây dựng 1. Phương pháp thu thập thông tin “Đây là phương pháp được sử dụng phô biến trong tất cả các nội dung nghiên cứu của dự án, đặc biệt là trong nội dung nghiên cứu thị trường và nghiên cứu khía cạnh kỹ thuật. Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu dựa vào những nguồn thông tin sẵn có trên các báo cáo, văn bản, quy định của Nhà nước; các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo, internet.); các số liệu thống kê theo định kỳ của các cơ quan thống kê, Bộ, Ngành.
Phương pháp này đơn giản, chỉ phí ít tốn kém hoặc thậm chí không mắt chỉ phí nhưng độ tin cậy của tài liệu không cao.