Mở đầu Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiến về đầu tư theo hình thức BOT, BT. Chuơng 3: Thực trạng về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông theo hình thức BOT, BT ở Hà Nội. Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông theo hình thức BOT, BT ở Hà Nội. Kết luận Các phụ lục Tài liệu tham khảo 4 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT, BT TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG 2.
Một số vấn đề về hạ tầng giao thông 2. Khái niệm và vai trò của giao thông vận tải Trong luận cương của Mác đã định nghĩa: “giao thông vận tải như một lĩnh vực thứ tư của sản xuất vật chất mà sản lượng của nó trong không gian và thời gian là tấn x cây số (T.KM) và hành khách x cây số (HK. Theo một định nghĩa đầy đủ thì giao thông vận tải (GTVT) là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân vỡ nú không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Đối tượng của vận tải chính là con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra.
Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt, mất mát và đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng và rẻ tiền. Trong vận tải đơn vị đo lường là tấn/km, hành khỏch/km. Sản phẩm giao thông vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được. Vận tải chỉ có thể tích luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải.
Mặt khác sản phẩm này cùng được “sản xuất” ra và cùng được “tiờu thụ”. Giao thông vận tải là một ngành sinh sau đẻ muộn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nú cú vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội. Theo Rostow “giao thông là điều kiện tiên quyết cho giai đoạn cất cánh phát triển”. Hilling và Hoyle (trong transportan development London 1993) thì cho rằng “giao thụng cú vai trò liên kết sự phát triển kinh tế với quá trình tiến lên của xã hội”.
Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất. Giao thông vận tải trong thế kỷ 21 phát triển hết sức nhanh chóng góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững trắc. Giao thông vận tải thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh và là cầu nối giỳp cỏc ngành kinh tế phát triển và ngược lại. Ngày nay vận tải được coi là một trong những ngành kinh tế dịch vụ chủ yếu có liên quan trực tiếp tới mọi hoạt động sản xuất và đời sống của toàn xã hội.
Nhờ có dịch vụ này mới tạo ra được sự gặp gỡ của mọi hoạt động kinh tế- xã hội, từ đó tạo ra phản ứng lan truyền giỳp cỏc ngành kinh tế cùng phát triển. Ngược lại chính sự phát triển của các ngành kinh tế lại tạo đà 5 thúc đẩy ngành giao thông vận tải phát triển. Nhà kinh tế học Johnson (The organization of space in developing countries- USA 1970) cho rằng: “mạng lưới đường là một trong các nhân tố cơ bản nhất để nâng cao chức năng kinh tế khu vực”. Ông còn nhận định “ một trong các nguyên nhân làm cho sản xuất của các nhà máy ở thành thị đình đốn chính là do đường xá, cầu cống dẫn đến nơi tiêu thụ quá thiếu và xấu.
Đây cũng chính là nguyên nhân buộc người nông dân phải bán sản phẩm của mình ngay tại nơi thu hoạch hay tại nhà cho các lái buôn với giá rẻ”. Chúng ta tán thành nhận định đó và kết luận: sự thiếu thốn một hệ thống các loại đường giao thông đạt tiêu chuẩn là nguyên nhân cơ bản của tình trạng sản xuất yếu kém của một vùng lãnh thổ hoặc một đô thị. Một hệ thống giao thông thuận tiện, đảm bảo sự đi lại, vận chuyển nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ sẽ đảm đương vai trò mạch máu lưu thông làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ được liên tục và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh ở mọi khu vực kinh tế. Một vai trò quan trọng của ngành giao thông vận tải là phục vụ nhu cầu lưu thông, đi lại của toàn xã hội, là cầu nối giữa cỏc vựng miền và là phương tiện giúp Việt Nam giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế.
Ngày nay, với hệ thống các loại hình giao thông: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không thì việc đi lại giao lưu kinh tế văn hoá giữa các địa phương, cỏc vựng trong nước và với các quốc gia trên thế giới trở nên hết sức thuận tiện. Đây cũng chính là một trong những tiêu chí để các nhà đầu tư xem xét khi quyết định đầu tư vào một thị trường nào đó. Ngành giao thông vận tải thu hút một khối lượng lớn lao động đủ mọi trình độ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đồng thời còn tạo ra hàng ngàn chỗ làm việc vào các lĩnh vực liên quan như công nghiệp GTVT (sản xuất xe ô tô chở khách và công nghiệp đóng tàu.), xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, bến bãi, nhà ga, bến cảng.
Khái niệm và phân loại cơ sở hạ tầng giao thông vận tải * Khái niệm cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Theo từ chuẩn Anh- Mỹ, thuật ngữ “cơ sở hạ tầng” (infrastructure) thể hiện trên 4 bình diện: 1/ Tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố. 2/ Công chánh (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu.3/ Giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt, cảng cho tàu và máy bay, đường thuỷ.Ba bình diện trên tạo thành cơ sở hạ tầng kinh tế- kỹ thuật vỡ chỳng bao gồm hệ thống vật chất- kỹ thuật 6 phục vụ cho sự phát triển của các ngành, lĩnh vực kinh tế. 4/ Hạ tầng xã hội (social infrastructure): bao gồm các cơ sở, thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội và các công trình phục vụ cho hoạt động văn hoá, xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao. Vậy cơ sở hạ tầng là hệ thống các công trình vật chất kỹ thuật được tổ chức thành các đơn vị sản xuất và dịch vụ, các công trình sự nghiệp có chức năng đảm bảo sự di chuyển, các luồng thông tin, vật chất nhằm phục vụ các nhu cầu có tính phổ biến của sản xuất và đời sống xã hội.
Từ khái niệm trên có thể quan niệm cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế. Cơ sở hạ tầng GTVT bao gồm hệ thống cầu, đường, cảng biển, cảng sông, nhà ga, sân bay, bến bãi và hệ thống trang thiết bị phụ trợ: thông tin tín hiệu, biển báo, đèn đường. Đặc trưng của cơ sở hạ tầng là có tính thống nhất và đồng bộ, giữa các bộ phận có sự gắn kết hài hoà với nhau tạo thành một thể vững chắc đảm bảo cho phép phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống. Đặc trưng thứ hai là các công trình cơ sở hạ tầng có quy mô lớn và chủ yếu ở ngoài trời, bố trí rải rác trên phạm vi cả nước, chịu ảnh hưởng nhiều của tự nhiên.
* Phân loại cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được phân loại theo nhiều tiêu thức tuỳ thuộc vào bản chất và phương pháp quản lý. Có thể phân loại theo hai tiêu thức phổ biến sau: - Phân theo tính chất các loại đường + Hạ tầng đường bộ bao gồm hệ thống các loại đường quốc lộ, đường tỉnh lộ, đường huyện, đường xã, đường đô thị, đường chuyên dùng và hệ thống các loại cầu: cầu vượt, cầu chui.cựng những cơ sở vật chất khác phục vụ cho việc vận chuyển trên bộ như: bến bãi đỗ xe, tín hiệu, biển báo giao thông, đèn đường chiếu sáng. + Hạ tầng đường sắt bao gồm các tuyến đường ray, cầu sắt, đường hầm, các nhà ga và hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt. + Hạ tầng đường sông bao gồm các cảng sông, luồng lạch, kè bờ.
là những tiền đề để tiến hành khai thác vận tải đường thuỷ. 7 + Hạ tầng đường biển bao gồm hệ thống các cảng biển, cảng nước sâu, cảng container và các công trình phục vụ vận tải đường biển như hoa tiêu, hải đăng. + Hạ tầng hàng không là những sân bay, đường băng. - Phân theo khu vực + Hạ tầng giao thông đô thị bao gồm hai bộ phận: giao thông đối ngoại và giao thông nội thị.
Giao thông đối ngoại là các đầu nút giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không nối liền hệ thống giao thông nội thị với hệ thống giao thông quốc gia và quốc tế. Giao thông nội thị là hệ thống các loại đường nằm trong nội bộ, nội thị thuộc phạm vị địa giới hành chính của một địa phương, một thành phố. Giao thông tĩnh trong đô thị bao gồm nhà ga, bến xe ô tô, các điểm đỗ xe. + Hạ tầng giao thông nông thôn chủ yếu là đường bộ bao gồm các đường liên xã, liờn thụn và mạng lưới giao thông nội đồng phục vụ sản xuất nông ngư nghiệp.
Hạ tầng giao thông nông thôn đóng góp một phần quan trọng vào hệ thống giao thông quốc gia, là khâu đầu và cũng là khâu cuối của quá trình vận chuyển phục vụ sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản và sản phẩm tiêu dùng cho toàn bộ khu vực nông thôn. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải Đầu tư vào CSHTGT cần khối lượng vốn lớn, chủ yếu là từ vốn ngân sách nhà nước (vốn ngân sách thường chiếm từ 60 – 70% tổng vốn đầu tư).