CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan lý luận về quản trị nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. Khái niệm về quản trị và quản trị nguồn nhân lực Khái niệm về quản trị: Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, ví dụ quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế).
Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trị Marketing, quản trị sản xuất.Một số khái niệm về quản trị như sau: Theo Koontz và O' Donnel, nhiệm vụ cơ bản của quản trị là "thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định". Mary Parker Follett cho rằng "quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác". James Stoner và Stephen Robins cho rằng: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. Nói một cách tổng quát, quản trị là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt được những kết quả cao nhất với mục tiêu đã định trước.
123doc 7 Khái niệm quản trị NNL có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: “Quản trị tài nguyên nhân sự là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của tổ chức” (Nguyễn Hữu Thân, 2007). Trong một nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức độ thấp, kinh tế chưa ổn định và Nhà nước chủ trương quá trình phát triển phải bằng con người và vì con người, thì “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” (PGS. Trần Kim Dung, 2011). Đối tượng của quản trị NNL là người lao động với tư cách là những cá nhân cán bộ, công nhân viên trong tổ chức và các vấn đề có liên quan đến họ như: công việc và các quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong tổ chức.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu khái quát quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, lương bổng và chính sách đãi ngộ nhân viên. Mục tiêu công tác quản trị nguồn nhân lực Quản trị NNL khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của quá trình sản xuất kinh doanh do đối tượng của quản trị NNL chính là những con người của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Họ có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với cán bộ quản lý, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh. Quản trị nguồn 123doc 8 nhân lực nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản (PGS.Trần Kim Dung, 2011) như sau: Sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành tận tâm với doanh nghiệp. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác. Như vậy về mặt kinh tế, quản trị nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn lực. Về mặt xã hội, quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản - lao động trong doanh nghiệp.
Để phát triển tổ chức bền vững và quản trị cấp dưới hiệu quả, tất cả các nhà quản trị cần có nhận thức, hiểu biết và kỹ năng quản trị nguồn lực phù hợp. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Để bắt kịp xu thế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp buộc phải thay đổi để tồn tại và phát triển. Trong đó việc làm mới tổ chức là điều tất nhiên, và muốn làm được điều này thì cần phải có một NNL vững vàng, mạnh mẽ. Mục đích của quản trị NNL nhằm phát huy tối đa nguồn lực của tổ chức.
Công tác quản trị NNL bao gồm hoạch định, tuyển dụng, đào tạo, duy trì, phát triển, động viên là một chuỗi các hoạt động lâu dài phức tạp, cần phải có chiến lược, mục tiêu cụ thể. Quản trị NNL hiệu quả thì mới có thể tạo ra đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, có thể thích nghi với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của thế giới. Nhà quản trị NNL hiệu quả phải là người tiên phong trong mọi lĩnh vực, khuyến khích nhân viên làm việc để đạt được thành tích tôt nhất, dẫn dắt tập thể đạt được mục tiêu đề ra. Để làm được điều này nhà quản trị phải cởi mở, có khả năng 123doc 9 thuyết phục, động viên, nâng cao tinh thần tổ chức, nhằm tạo sự thoải mái, kích thích sự sáng tạo của tập thể.
Con người luôn là trung tâm của tổ chức, là nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Do đó quản trị NNL giúp cho tổ chức có được đội ngũ cán bộ CNV vừa có trình độ vừa có đạo đức. Nhà quản trị NNL có kinh nghiệm đánh giá nhân sự, biết cách biến nguồn lực con người trở thành tài sản vô giá cho công ty. Tóm lại, con người là yếu tố cấu thành doanh nghiệp, bản thân con người vận hành doanh nghiệp và con người quyết định sự thành công của doanh nghiệp.
Chính vì vậy quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò rất quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Lĩnh vực quản trị này giúp cho quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các doanh nghiệp trở nên ngày càng hiệu quả, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong môi trường hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay. Hà Văn Hội, Quantri.vn biên tập và hệ thống hóa) 1. Những chức năng của quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Bao gồm hai hoạt động chính là hoạch định nguồn nhân lực và tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp. Hoạch định nguồn nhân lực Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực tiễn các chương trình, hoạt động bảo đảm cho doanh nghiệp có đủ nguồn lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao (PGS.Trần Kim Dung, 2011). Quá trình hoạch định nguồn nhân lực cần được thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, quá trình hoạch định nguồn nhân lực được thực hiện theo các bước sau: Bước 1: Phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược phát triển, kinh doanh cho doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng.
123doc 10 Môi trường kinh doanh bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong. Phân tích môi trường kinh doanh với các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe dọa (SWOT) là cơ sở cho việc xác định mục tiêu, chiến lược cho doanh nghiệp nói chung và hoạch định NNL nói riêng. Bước 2: Phân tích hiện trạng nguồn nhân lực và đề ra chiến lược nguồn nhân lực phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển kinh doanh cho doanh nghiệp đã thực hiện ở bước 1. Phân tích hiện trạng quản trị NNL nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi của doanh nghiệp.
Về phương diện hệ thống, cần phân tích quản trị NNL dựa trên các yếu tố: nguồn nhân lực, cơ cấu tổ chức, các chính sách. Về phương diện quá trình, cần phân tích quản trị NNL là tổng hợp các quá trình thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì NNL trong doanh nghiệp. Bước 3: Dự báo khối lượng công việc, nhu cầu NNL, khả năng điều chỉnh và đề ra các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện để giúp doanh nghiệp thích ứng với các nhu cầu mới và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL. Nhu cầu NNL của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố: khối lượng công việc cần thiết phải thực hiện, trình độ trang bị kỹ thuật và khả năng nâng cấp về mặt công nghệ, sự thay đổi về tổ chức hành chính, cơ cấu ngành nghề theo yêu cầu công việc, khả năng nâng cao chất lượng nhân viên, tỷ lệ nghỉ việc trong nhân viên, yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Đối với các mục tiêu và kế hoạch ngắn hạn, sau khi xác định được khối lượng công việc cần thực hiện, doanh nghiệp cần tiến hành thực hiện phân tích công việc để xác định nhu cầu số lượng nhân viên với các phẩm chất và kỹ năng cần thiết để thực hiện các công việc trong tương lai và làm cơ sở cho việc phân công bố trí lại cơ cấu tổ chức, tinh giản biên chế hoặc tuyển dụng thêm nhân viên mới.