Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công chứng và QLNN đổi với các tổ chức hành nghề công chứng “Chương 2: Thực trang QUNN đồi với ic tổ chức hành nghé công chứng trên dia bản tính Thái Nguyễn “Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CONG CHUNG VA QUAN LÝ NHÀ NƯỚC DOI VỚI CÁC TÔ CHỨC HANH NGHE CÔNG CHUNG 1. Khái niệm, chức năng, vai trò, đặc điểm về công chứng và các tổ chức hành nghề công chứng 11. Ting quan về các mô hình công chứng trên thể giới Công chứng đã cổ lịch sử hình thành, pháttiễn hằng ngân năm và gin b6 chất chẽ với đời sống dân sự. Cho đến nay, công chứng tồn tại ở hầu hết các quốc gia trên thé giới và hình thành nên ba hệ thống công chứng saw Mô hình công chứng La tỉnh trơng ứng với hệ thống luật La Mã - còn gọi là mô hình pháp luật dân sự (Civil Law); Ở các nước theo hệ La tỉnh, Công chứng viên được Nhà nước uỷ thie một phần quyền lực va trao cho con dẫu riêng cố khắc tên công chứng viên đó.
Với tr cách là uỷ viên công quyển, công chứng viên có nhiệm vụ cung cắp dich vụ công, thé hiện ở việc chỉnh họ được người đứng đầu Nha nước hoặc Bộ trưởng Tu pháp bổ nhiệm và được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thấm quyền. Với tư cách là người bảo vệ quyền lợi của các cá nhân và an toàn pháp lý của các quan hệ hợp đồng, Nhà nước uy quyển cho công chứng viên-một nhà chuyên nghiệp do chính Nhà nước bổ nhiệm và giám sát để thực hiện chức năng công vụ đó. Xô hình công chứng Anglo - Saxon tương ứng với hệ thống pháp luật Anglo-Saxon (Common Law); Ở các nước trong hệ Anglo-sacxon, thé chế công chứng không được. Nhà nước không thửa nhận một thể chế công chứng, không bổ nhiệm một chức danh hoạt động công chứng chuyên nghiệp và chuyên biệt, được trang bị một quyền năng để thay mặt Nhà nước đem lại tỉnh xác thực cho những hợp đồng, văn bản.
Mo hình công chứng tậ thể (Collecdvite) tương ứng với hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique). Cho đến nay, hệ thống công chứng này đã tỏ ra lỗi thời, không phù hợp với xu hướng xã hội hiện tại. Tuy nhiên, nước ta là một trong số ít nước còn lại vẫn bị ảnh hưởng của mô hình này. “Trước diy, công chứng tip thể là công chứng Nhã nước, Công chứng viên là công chức nhà nước, Phòng Công chứng là cơ quan Nhà nước, Nhà nước lập ra theo đơn vi hành chính.
Những nơi chưa có Phòng Công chứng thi chinh quyền thực hiện việc 6 ng chứng. Có nơi Phòng công chúng và chính quyễn cùng thực hiện hình vi công chứng. Sau kh Liên Xô và các nước XHCN tan rã, tì hu hết các nước áp dụng mô hình công chứng này đã chuyển dẫn sang mô hình công chứng Latinh. Việt Nam vẫn chi ảnh hướng của hệ thông công chứng tip thể này, sau này hi có Luật Công chứng năm 2006 Việt Nam đã có một bước chuyển mới, song vẫn chịu ảnh hưởng nặng của.
hệ thống công chứng Collectivst. Mặc dù h lì thành ba hệ thống công chứng như öên, song chung quy hi, chỉ có hai mô hình công chứng: mô hình công chứng tự do (ở hệ thông công chứng Latinh và hệ thing công chứng Anglo-Saxon) và mô hình công chứng nhà nước (chỉ ổn ti ở hệ thống công chứng Collectiviste). Khái niệm, chức năng, vai trò của công chứng.1, Khối niện vẻ công chứng Lịch sử hoạt động công chúng, chứng thực, làm chứng gin liền với sự phít triển cña xã hội. Suốt từ thời kỳ cỗ đại đến trung cổ, giữa người làm công chúng (Công chứng viên) và người lập văn tự thuê chưa được phân biệt rõ rằng.
Ở thời kỳ cô đại, người ta 4a thấy những viên thư lại ign hành soạn thảo các khế ước (hợp đồng) theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khó có thé bị thay đổi về sau, khác hắn với những khế ước khong thành văn theo truyền thông (giao kết miệng). Một số tác giá nghiên cứu vỀ công chứng cho rằng, có hai loại hình thực h én công chứng là tư chứng thư và công chứng thư, "Tư chứng thư (chỉ người làm chứng tự do): Trong nhân dân ta tồn tại một truyỄn thống là mỗi khi có các giao dịch quan trọng đều phải nhờ những người có uy tín trong gia tộc, trong thôn xóm đứng ra làm chứng để xác nhận. Khi có tranh chấp xảy ra, các cơ cquan nhà nước có thẩm quyển dựa vào hình thức chứng nhận trên để chứng minh sự thật, lấy đỏ làm cơ sở ii quyết vụ việc tranh chấp, Những văn tự được lập ra do các cá nhân công dân thực hiện và có người thứ ba làm chứng với tư cách cá nhân nên được gọi là "tư chứng thu”. Như vậy, cho đến nay vẫn tổn tại một loại hoạt động chứng nhận, xác nhận, cung cấp chứng cứ của bắt kỳ một cá nhân, tổ chức nào, nhằm phản ảnh một sự kiện, hiện tượng ma họ cho là có thật, vi dy: Cung cắp chứng cứ cho 7 Toa án, xác nhận thời gian công tác, lâm chứng cho việc giao tiền mua bán nhà.
Day là một loại chứng nhận vẫn tồn tai và có ý nghĩa thiết thực trong đồi sống xã hội, nhưng không phải là hoạt động công chứng với danh nghĩa là một tổ chức được nhà nước công nhân hoặc cho phép hoạt động Công chứng thư (do nhà nước thực hiện hoặc ủy quyển): Đây là hoạt động chứng nhận, chứng thực, xác nhận có tính chit công, phục vụ lợi ich công. do nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, vi vậy được gọi là công chứng. TỔ chức công chứng và người thực hiện hành vi công chứng được nha nước ra quyết định công nhận và cho. phép hoạt động nhằm bảo đảm tính xác thực trong hoạt động giao dich và các quan hệ khác theo quy định của pháp luật hoặc theo yêu cầu của công dân, tổ chức, được thể hiện bằng các hình thức nhà nước trực tiếp thực hiện (ông chứng nhà nước) hoặc nhà nước ủy quyền (công chứng tự do) Luật Công chứng năm 2014 quy định: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hop pháp của hop đồng, giao dich dân sự khúc bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hop pháp, không trải dao đức xã hội của bản dịch giấu tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dich) mã theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng 1.
Chức năng của công ching Công chứng có chức năng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng. giao dich dan sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản tử tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc tử tếng nước ngoài sang tiếng Việt mã theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng 1. Vai trỏ của công chứng Công chứng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp của nội dung các giao địch. Thực tiễn cho thay, người din Việt Nam có sự hiểu biết rõ rằng các quy định của pháp luật trong.
sắc hợp đồng din st. Việc công chứng sẽ git cho các bên hiễu rỡ hơn về quyé nghĩa vụ của mình trong giao dich đó qua việc tư vấn, giải thích của các công chứng Cong ching góp phần hạn chế cúc giao dịch không có that, góp phần hạn chế các yếu 16 la đảo, fia đối wong các hợp đồng giao dich (đặc biệt trong các hợp đồng giao dich é uyễn sử dụng dit, nhất nhất là trong các trường hợp thừa kế theo dĩ chúc, chuyển nhượng quyền sử dụng aft). Vi dy: với sự tham gia của công chúng, các vẫn để như lừa đối khi lập di chúc, cưỡng ép lập di chúc sẽ không xảy ra trừ phi có sự thông đồng. giữa một bên với công chứng viên.
Công chứng sẽ nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ (hợp đồng) khi có tranh chip. Rõ rằng, kh xảy ra tranh chấp, ce bên tham gia giao dich phải đưa ra chimg cử để bảo vệ quyền và lợi ich hợp pháp của mình. Tòa án sẽ dễ xem xét và chấp nhận hon nếu ác giao dich đó đã được công chứng 1. Khái niệm, đặc điểm về các tổ chức hành nghề công chứng.
‘Theo khoản 5 điều 2 Luật Công chứng năm 2014 quy định 'ổ chức hành nghề công. chứng bao gồm Phòng công chúng và Van phòng công chẳng 113. Khải niện phòng công ching Hệ thống công chứng nhà nước của Việt Nam được hình thình trên cơ sở Thông tổ 574/ .QLTPK ngày 10/ 107 1987 của Bộ Tư pháp về công tức công chứng nhà nước và Thông tr số 858/ QLTPK ngày 15/ 10/1987 của Bộ Tư phip về hướng dẫn thực hign các việc công chứng: Quyết định số 90/ HĐBT ngày 19) 7/ 1989 của Hội ong Bộ tưởng về con dẫu của phòng công chứng nhả nước. Trước khi có các phòng công chứng, mọi việc có tính.
chất công chúng đều do ủy ban nhân dân thực hiện theo sắc nh số 59/ SL ngày 15/ 1 1945 "ấn định thé lệ việc thị thực các giấy tờ” và sắc lệnh s S8 SL ngày 29/2/1952" Ban hành thể lệ trước bạ v các việc mua bin, cho và đổi nhà ia, mộng đất" do Chủ ich Hỗ Chí M nh ký bạn hành. Như vậy, suốt hồi gian dài hơn 40 năm kể tử khi thành lập nước, người dân Việt Nam, chỉ iết đến hoạt động thị thực của các cắp chỉnh quyền và hình thinh ÿ thức cho đó là hoạt động của Nhà nước, chỉ có thể do Nhà nước thực hiện. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xóa bỏ trigt để cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường với việc thừa nhận sự tồn tại của đa hình thức sở hữu, đa thành phẩn kinh tế, là việc thừa nhận sự tổn tại của thành phần kính tế tư nhân đ khơi đây mọi tim năng của xã hội. Kinh tế xã hội đã có nhiều biển đổi sâu sắc, các nhu cầu, lợi ích hợp pháp của cá nhân, của xã hội được tôn trọng.