CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, tầm quan trọng của tạo động lực cho người lao động 1. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực * Động cơ Theo TS. Nguyễn Thị Hồng (2020): “Động cơ là lý do khiến con người ta hành động một điều gì đó.
Động cơ biểu thị thái độ chủ quan của con người đối với hành động của mình. Một người sẽ không làm việc nếu không có động cơ. Động cơ được hiểu như thứ khiến cho người ta suy nghĩ và hành động. Mọi việc làm đều xuất phát từ ít nhất một động cơ nào đó”.
Mỗi con người khi suy nghĩ và hành động luôn bị chi phối bởi nhiều lý do khác nhau. Trong đó tồn tại những lý do có phần mâu thuẫn nhau. Mỗi lý do sẽ tạo ra những động cơ có tác động khác nhau đến con người. Tại một thời điểm, trong một hoàn cảnh nhất định, con người luôn bị giằng xé bởi nhiều động cơ khác nhau.
Tổng hợp các động cơ có hướng tác động cũng chiều và có đủ lực lớn sẽ tạo nên động lực khiến con người quyết định hành động và chọn hướng hành động. Lực tác động càng mạnh sẽ khiến con người hành động với cường độ cao hơn. * Động lực Theo Giáo trình “Tạo động lực lao động” – Trường Đại học Lao động xã hội (2020): “Động lực là sự thôi thúc con người cần hành động. Động lực được ví như “động cơ của một cỗ máy”, động cơ cỗ máy đó càng tốt thì cỗ máy chạy càng nhanh, càng đúng.
Động lực mạnh khiến con người ta đưa ra quyết định và hành động nhanh chóng”. Cái gốc của động lực là động cơ. Khi tổng hợp các động cơ đã đủ để khiến con người thực hiện một hành động nào đó, thì động lực sẽ duy trì và thúc đẩy hành động đó mạnh mẽ hơn. Động lực là lực thôi thúc con người trong quá trình hành động, dẫn dắt hành động của con người.
Một hành động cần được xuất phát từ ít nhất một lý do, những 5 hoạt động đó chỉ có thể được nuôi dưỡng, duy trì bằng động lực để thực hiện chính nó. Lý do để bắt đầu một hành động nào đó có thể mất đi sau một thời gian thực hiện hành động, nhưng nếu xuất hiện một lý do khác cùng chiều sẽ tiếp tục nuôi dưỡng động lực để tiếp tục thực hiện hành động ban đầu. Như vậy, có thể nói động lực được tổng hợp từ nhiều động cơ khác nhau, là nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến việc duy trì, tăng cường hành động. * Động lực lao động Trong cuốn “The motivation to work”, Frederick Herzberg (1959) nói rằng: “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Theo Vroom (1964): “Động lực là trạng thái hình thành khi NLĐ kỳ vọng rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng như mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc”. Bùi Anh Tuấn (2011): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”.Judge (2012): “Động lực là quá trình thể hiện cường độ, định hướng và sự bền bỉ của những nỗ lực thuộc về cá nhân nhằm đạt được mục tiêu”. Nói chung, có thể hiểu động lực lao động là sự nỗ lực một cách tự nguyện của người lao động để tăng cường các hoạt động lao động nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của mình thông qua việc đạt được mục tiêu của tổ chức.
Động lực lao động là cơ sở thúc đẩy hành vi tích cực trong công việc, thúc đẩy quá trình nỗ lực làm việc. Động lực lao động có phương, hướng và cường độ rõ ràng. Người lao động sẽ làm việc chăm chỉ, hiệu quả hơn khi có động lực làm việc cao. 6 * Khái niệm tạo động lực Vấn đề tạo động lực cho người lao động là vấn đề quan trọng tại mỗi tổ chức, đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu.
Cũng như khái niệm về động lực, tạo động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: Theo PGS.TS Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”. Theo giáo trình “Hành vi tổ chức” của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2011): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong công việc. Tạo động lực cho NLĐ là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý.
Một khi NLĐ có động lực làm việc thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao chất lượng, năng suất lao động và hiệu quả công việc”. Theo giáo trình “Tạo động lực lao động” của trường Đại học Lao động xã hội (2020): “Tạo động lực là tổng hợp các biện pháp và ứng xử của các tổ chức và các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Các biện pháp được đặt ra có thể là đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở cách tổ chức đó đối xử với người lao động như thế nào”. Như vậy, có thể hiểu: Tạo động lực cho người lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc, đem lại những giá trị cao hơn cho tổ chức.
Chủ thể của tạo động lực lao động là tổ chức, đối tượng nhận tác động tạo động lực là người lao động. 7 Theo cách tiếp cận của tác giả, tạo động lực cho người lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực của người lao động bao gồm: sự tự nguyện, tự giác, phấn đấu, nỗ lực trong công việc của người lao động., từ đó tăng năng suất lao động và lòng trung thành với tổ chức, góp phần đem lại những giá trị tốt đẹp cho tổ chức. Tạo động lực lao động là công tác quan trọng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần làm để có sự phát triển bền vững. Kết quả của công tác tạo động lực lao động được thể hiện ở: mức độ hài lòng của người lao động, mức độ gắn bó của người lao động, năng suất lao động, kết quả và hiệu quả trong công việc, tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người lao động.
Vai trò và tầm quan trọng của công tác tạo động lực cho người lao động * Đối với người lao động: Đối với NLĐ, công tác tạo động lực là cơ sở để thúc đẩy tinh thần làm việc, nâng cao năng suất và chất lượng công việc. Từ đó, họ tạo ra những kết quả ấn tượng, đóng góp vào quá trình hoạt động chung của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, NLĐ cũng được hưởng các thành quả: thưởng, tăng lương, sự thăng tiến trong công việc,. Sự nỗ lực của người NLĐ sẽ được tổ chức đánh giá cao, tuyên dương, động viên khiến cho giá trị bản thân người lao động được công nhận.
Nếu một công ty không quan tâm đến vấn đề tạo động lực cho người lao động thì dần dần người lao động sẽ mất đi sự hứng thú trong công việc. Điều này có thể dẫn đến kết quả lao động của họ sụt giảm, hay thậm chí gây ra những thiệt hại, tổn thất cho tổ chức. Kết quả làm việc không tốt có thể khiến NLĐ bị khiển trách, chịu phạt, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ. * Đối với người tổ chức, doanh nghiệp: Mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất của một doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận.
Để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố con người đóng vai trò then chốt. Đối với tổ chức, tạo động lực lao động giúp tăng hiệu quả trong việc khai thác và phát huy tiềm năng nguồn nhân lực. Khi NLĐ cố gắng nỗ lực làm việc là lúc họ tạo ra những giá trị tốt nhất 8 cho tổ chức. Nhờ vậy tổ chức sẽ phát huy được khả năng làm việc hiện hữu và tiềm năng trong họ.
Tạo động lực lao động mang đến sự gắn bó tự nguyện của NLĐ với tổ chức, góp phần làm tăng tính hấp dẫn của tổ chức trên thị trường lao động. NLĐ hưởng ứng các chính sách, chế độ của tổ chức sẽ truyền thông ra bên ngoài, thu hút sự quan tâm của những người lao động khác. NLĐ khi được tạo động lực lao động sẽ nỗ lực làm việc, từ đó gia tăng hiệu suất làm việc, là điều kiện gia tăng năng suất lao động cho tổ chức. * Đối với xã hội: Tạo động lực có thể giúp cho các cá nhân đạt được các mục tiêu đề ra, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.
Lợi nhuận công ty và thu nhập của NLĐ tăng lên sẽ đóng góp vào sự tăng trưởng của thu nhập quốc dân, là tiền đề cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế. Từ đó, chất lượng cuộc sống của người dân cũng được cải thiện. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tạo động lực cho người lao động tại doanh nghiệp 1. Các yếu tố thuộc về tổ chức Nhóm yếu tố này thể hiện sự ủng hộ và tạo điều kiện của tổ chức để NLĐ đem những khả năng của bản thân cống hiến vào mục tiêu chung, cũng chính là giúp họ đạt được mục tiêu của mình.
Mỗi yếu tố đều có sự tác động khác nhau đến động lực làm việc của NLĐ: * Vị thế của ngành: Những người lao động làm việc trong những ngành nghề, lĩnh vực được mọi người đánh giá cao thì họ sẽ cảm thấy tự hào, yêu công việc, nỗ lực làm việc để không bị đào thải.