CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO DỘNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Động lực lao động Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm có một quan điểm khác nhau nhưng đều làm rõ được bản chất của động lực lao động. Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân năm 2018 viết: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”.
Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ”. [ 2] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của NLĐ. Động lực lao động được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi NLĐ đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức.
Mỗi NLĐ đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn. Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân NLĐ. Tạo động lực lao động Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý nhằm vào NLĐ để họ hiểu và yêu công việc của mình, gắn bó với tổ chức, qua đó nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công tác của NLĐ và nhờ đó tổ chức đạt được mục tiêu đề ra.
Vấn đề chính của tạo động lực đó là việc đề ra các mục tiêu và các mục tiêu này phải phù hợp với nguyện vọng của NLĐ, tạo cho NLĐ có niềm tin, sự an tâm để họ nỗ lực làm việc, phát huy năng lực, sức sáng tạo, mang lại kết quả cao. Để đạt 5 được điều đó, nhà quản lý cần phải tìm hiểu để nắm bắt được mục đích hướng tới của NLĐ thông qua sự nhận biết về động cơ cũng như nhu cầu của họ. Như vậy, tạo động lực cho NLĐ là trách nhiệm, đồng thời là mục tiêu của nhà quản lý. Tạo động lực để NLĐ làm việc chăm chỉ hơn, cống hiến hết mình vì doanh nghiệp, gắn bó với doanh nghiệp lâu dài.
Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn đến nỗ lực làm việc của các thành viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của những con người tâm huyết, hết lòng vì tổ chức. Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại và phát triển với những con người làm việc hời hợt, tâm lý luôn luôn chán nản, chán công việc. Chính vì thế bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải tạo động lực lao động cho NLĐ. Tạo động lực cho NLĐ không những kích thích tâm lý làm việc cho NLĐ mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, xây dựng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường….
Vai trò của tạo động lực lao động a. Đối với cá nhân NLĐ Tạo động lực lao động giúp cho NLĐ tăng năng suất lao động cá nhân: Khi có động lực lao động thì NLĐ sẽ thấy yêu thích công việc và nhiệt tình với công việc dẫn đến kết quả làm việc của cá nhân được cải thiện, nâng cao hơn trước và nâng cao thu nhập cho NLĐ. Bên cạnh đó, NLĐ cũng có thể phát huy tính sáng tạo, ham học hỏi, trau dồi kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ khi con người cảm thấy thoải mái, tự nguyện thực hiện một công việc nào đó. Vì thế mà doanh nghiệp sẽ không phải tốn kém khoản chi phí nào để giữ chân NLĐ, khi đã yêu thích và cảm nhận được điều thú vị trong công việc thì sẽ hình thành bên trong bản thân họ sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức của mình.
Ngoài ra, tạo động lực còn được thể hiện khi công việc diễn ra một cách thuận lợi thì NLĐ sẽ cảm thấy được công sức của mình bỏ ra là có ích và đạt hiệu quả cao. Điều đó tạo cho họ cảm nhận rằng mình có ích, có ý nghĩa trong công việc từ đó không ngừng nỗ lực hoàn thiện bản thân hơn nữa. Đối với tổ chức Hiện nay, trong các doanh nghiệp, vấn đề về tạo động lực đã và đang là một bài toán hóc búa đối với các nhà quản lí. Đó là một bài toán với nhiều cách giải khác nhau.
Nếu như đáp án của bài toán tốt thì lợi ích của tạo động lực mang lại cho tổ chức là không hề nhỏ bé. Nguồn nhân lực vốn được coi là tài sản quý trong tổ chức, nếu như vấn đề tạo động lực được cải thiện thì sẽ hình thành cho tổ chức có được đội ngũ lao động giỏi chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với ngành nghề và gắn bó lâu dài với tổ chức đồng thời cũng thu hút được khối lượng đáng kể lao động có chất lượng về làm cho tổ chức. Không những thế, khi đã tạo được động lực cho lao động thì sẽ tạo ra cho tổ chức môi trường làm việc hăng say, thoải mái, năng động, góp phần xây dựng nên văn hóa trong doanh nghiệp, nâng cao uy tín, niềm tin và hình ảnh của công ty. Đối với xã hội Động lực giúp cho các cá nhân có thể thực hiện được những mục tiêu, mục đích của mình, làm cho đời sống tinh thần của mỗi người trở nên phong phú hơn, từ đó hình thành nên những giá trị mới trong xã hội.
Khi các nhu cầu đã được thỏa mãn thì từ đó các thành viên trong xã hội được phát triển một cách toàn diện và có được cuộc sống hạnh phúc hơn. Động lực lao động đã gián tiếp xây dựng xã hội ngày càng phồn thịnh và phát triển dựa trên sự tăng trưởng không ngừng của các doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến tạo động lực lao động Trong quá trình lao động có rất nhiều yếu tố tạo động lực cho NLĐ. Các yếu tố có thể xuất phát từ chính bản thân NLĐ cũng có thể là các yếu tố từ môi trường làm việc, quản lí.
Việc chúng ta cần làm ở đây là làm sao có thể xác định được các yếu tố nào là yếu tố có tầm ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động của NLĐ trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể 1. Các nhân tố thuộc về cá nhân NLĐ a. Nhu cầu của NLĐ Mỗi NLĐ trong công ty đều có những mong muốn được thỏa mãn nhu cầu của riêng mình để tồn tại và phát triển. Có thể chia nhu cầu của NLĐ thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, hai loại nhu cầu này luôn được thỏa mãn tốt nhất.
Nhu 7 cầu về vật chất là những nhu cầu cơ bản nhất, đảm bảo cuộc sống của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở… Đây là nhu cầu chính và cũng là động lực chính khiến NLĐ phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về lượng sang nhu cầu về chất. Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng được nâng cao bao gồm: + Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ + Nhu cầu thẫm mỹ và giao tiếp xã hội + Nhu cầu công bằng xã hội.
Vì vậy người quản lí cần phải biết được rằng NLĐ muốn gì từ công việc của họ để có cách thỏa mãn nhu cầu cho họ nhằm đem lại động lực lao động. Mục tiêu cá nhân Mỗi NLĐ khi tham gia vào tổ chức sẽ đặt ra mục tiêu cá nhân của riêng mình. Họ tồn tại trong tổ chức là để thực hiện mục tiêu đó. Nếu mục tiêu mà họ đặt ra quá xa vời thì sẽ gây ra thất vọng về sau này, khi họ nhận thấy những kỳ vọng của mình vào tổ chức đã không được đáp ứng.
Ngược lại, sẽ có những người lại đặt ra mục tiêu quá thấp. Do đó, khi vào làm trong tổ chức, họ thấy việc đạt được mục tiêu mà mình đề ra không mấy khó khăn. Việc này sẽ làm cho NLĐ không phát huy hết khả năng của mình trong công việc. Đặc điểm tính cách Tính cách con người là sự kết hợp các thuộc tính tâm lí cơ bản và bền vững của con người.
Nó được biểu hiện thành thái độ, hành vi của con người đối với bản thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đối với cả xã hội nói chung. Như vậy, tính cách không phải hoàn toàn do di truyền mà nó còn là hiệu quả của tác động của sự giáo dục, rèn luyện của bản thân và sự tác động giao tiếp của môi trường mà người đó sống và làm việc trong đó. Các nhà quản trị khi biết được tính cách của mỗi NLĐ trong doanh nghiệp mình thì nó sẽ là cơ sở để họ tìm ra cách đối xử và sử dụng tốt hơn. 8 Tính cách bao gồm hai phần cơ bản là đạo đức và ý chí: + Về đạo đức: đó chính là tính đồng loại, lòng vị tha hay tính ích kỉ, tính trung thực hay dối trá, cẩn thận hay cẩu thả, chăm chỉ hay lười biếng… + Về ý chí: đó là tính cương quyết hay nhu nhược, dám chịu trách nhiệm hay đùn đẩy trách nhiệm, có tính độc lập hay phụ thuộc… Tính cách cũng là một trong những yếu tố cơ bản tác động đến hành vi hay ứng xử của người nào đó.
Đây cũng là một yếu tố mà các nhà quản lí cầm xem xét để tạo động lực phù hợp trong tổ chức. Năng lực của NLĐ Năng lực của NLĐ thể hiện trình độ, kỹ năng, sự hiểu biết, kinh nghiệm của NLĐ đối với công việc. Năng lực được xây dựng và phát triển qua quá trình lao động, làm việc thực tế. Do vậy, năng lực của mỗi người là khác nhau nên động lực khiến họ làm việc tích cực cũng khác nhau.
Nhưng khi NLĐ được đảm nhận những công việc phù hợp với năng lực, khi họ có được những điều kiện làm việc đầy đủ họ sẽ có động lực làm việc để phát huy tốt nhất năng lực của mình.