phần mở đầu, kết luận, trang mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, nội dung Luận văn kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tự chủ tài chính tại các đơn vị y tế công lập. Thực trạng về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng giai đoạn 2017 – 2021. Một số biện pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng trong thời gian tới.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ CÔNG LẬP 1. Một số vấn đề cơ bản về ĐVSN có thu 1. Khái niệm và cách phân loại ĐVSN có thu ĐVSN có thu là một loại hình của ĐVSNCL do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nƣớc. Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác [24, tr.
Việc phân loại ĐVSN có thu căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, mức độ tự đảm bảo kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 60) quy định cơ chế TCTC của ĐVSNCL nói chung và ĐVSN có thu nói riêng đƣợc chia thành 4 loại: - ĐVSN có thu tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư (nhóm 1): Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên và hoạt động đầu tƣ, mức độ tự chủ bảo đảm chi phí của hai hoạt động này bằng hoặc lớn hơn 100%; có mức tự bảo đảm chi đầu tƣ bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định của đơn vị. Mức tự bảo đảm chi đầu tƣ đƣợc xác định bao gồm các nguồn sau: (i) số dự kiến trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp trong năm kế hoạch hoặc của bình quân 05 năm trƣớc liền kề; (ii) số thu phí đƣợc để lại để chi thƣờng xuyên không giao tự chủ theo quy định [24, tr. - ĐVSN có thu tự bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 2): là đơn vị đáp ứng một trong các điều kiện sau: (i) Đơn vị có mức độ tự bảo đảm kinh phí chi thƣờng xuyên bằng hoặc lớn hơn 100% và chƣa tự bảo đảm chi đầu tƣ từ nguồn Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, nguồn thu phí để lại chi, các nguồn tài chính hợp pháp khác; (ii) Đơn vị thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, đƣợc Nhà nƣớc đặt hàng theo giá tính đủ chi phí (không bao gồm khấu hao tài sản cố định) [24, tr.
7 - ĐVSN có thu tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (nhóm 3): Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thƣờng xuyên, phần còn lại đƣợc NSNN cấp. Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị đƣợc tính từ 10% đến dƣới 100%, đƣợc Nhà nƣớc đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá chƣa tính đủ chi phí [24, tr. - ĐVSN có thu do NSNN bảo đảm chi thường xuyên (nhóm 4): Là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên xác định theo phƣơng án dƣới 10% hoặc ĐVSN công không có nguồn thu sự nghiệp, đƣợc NSNN đảm bảo toàn bộ chi thƣờng xuyên tại đơn vị [24, tr. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu Thứ nhất, ĐVSN có thu là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận nhƣ các doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh.
Thứ hai, sản phẩm của các ĐVSN có thu là các sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra vật chất và giá trị tinh thần. Thứ ba, hoạt động sự nghiệp trong các ĐVSN có thu luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nƣớc [27, tr. Vai trò của ĐVSN có thu trong nền kinh tế Thực hiện cơ chế TCTC theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ (Nghị định 43), sau đó là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ (Nghị định 16) và hiện tại là Nghị định 60, các ĐVSN có thu đã đóng góp một phần vào phát triển và tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân, có vị trí quan trọng cho sự ổn định kinh tế vĩ mô và góp phần không nhỏ vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, cụ thể nhƣ: (i) Cung cấp các dịch vụ công đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội; (ii) Hoạt động chủ yếu theo nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và trình độ cho xã hội; khám bệnh, chữa bệnh; cung cấp các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật; nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ.v…; (iii) Hầu hết tất cả các ĐVSN có thu đều có vai trò chủ đạo đối với lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, triển khai thực hiện các đề án, chƣơng trình trọng điểm, quan trọng để đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế TCTC đối với ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế 1.
Sự cần thiết của cơ chế TCTC đối với ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế 1. Khái niệm về cơ chế TCTC Cơ chế TCTC của các ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế hiện nay đƣợc quy định tại Nghị định 60. Đó là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện quy định về danh mục sự nghiệp công; giá, phí và lộ trình tính giá dịch vụ sự nghiệp công; phân loại mức độ tự chủ tài chính; tự chủ sử dụng nguồn tài chính; tự chủ trong hoạt động liên doanh, liên kết; quản lý, sử dụng tài sản công và các quy định khác có liên quan [24, tr. Sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế TCTC đối với ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế Thứ nhất, đƣợc quyền tự chủ lớn hơn trong việc xác định tổ chức bộ máy và nhân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao.
Thứ hai, đƣợc chủ động hơn trong việc quản lý và tổ chức thực hiện kế hoạch đƣợc giao, đƣợc liên doanh, liên kết, XHH, ký kết các hợp đồng cung ứng dịch vụ… nhằm góp phần đa dạng hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ. Thứ ba, đƣợc trao quyền lớn hơn trong quản lý tài chính, thủ trƣởng đơn vị đƣợc quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi đối với phần kinh phí đƣợc giao tự chủ miễn là đƣợc quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. Mục tiêu của cơ chế tự TCTC đối với ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế Cơ chế TCTC đối với ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế nhằm hƣớng tới mục tiêu: - Một là, nhằm phân biệt chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực y tế với chức năng điều hành các hoạt động của ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế. Các đơn vị này hoạt động theo cơ chế riêng, phù hợp với hoạt động đặc thù của ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế.
- Hai là, trao quyền TCTC cho các ĐVSNCL thuộc lĩnh vực y tế giúp cho các đơn vị chủ động về nguồn thu, chi, đảm bảo có hiệu quả tích lũy nhằm giúp các đơn vị chủ động cân đối các nguồn vốn để đầu tƣ xây dựng, mua sắm trang thiết bị, công cụ nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ KCB hƣớng tới sự hài lòng của ngƣời bệnh, tăng nguồn thu cải thiện và nâng cao thu nhập cho ngƣời lao động. 9 - Ba là, thực hiện chủ trƣơng XHH, liên doanh, liên kết trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, chủ động huy động các nguồn lực đóng góp của cộng đồng để phát triển hoạt động sự nghiệp, từng bƣớc giảm dần bao cấp từ NSNN. Tác động của cơ chế TCTC đối với bệnh viện công lập 1. Tác động tích cực Một là, nâng cao khả năng cạnh tranh cho bệnh viện, góp phần cải thiện, nâng cao chất lƣợng hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong BVCL.
Hai là, thúc đẩy BVCL nâng cao hiệu quả hoạt động, từ khâu chuyên môn, chỉ đạo khám bệnh, chữa bệnh đến các hoạt động về tổ chức, hành chính quản trị, công tác kế toán tài chính, khuyến khích cơ chế làm việc hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tránh thất thoát gây lãng phí cho bệnh viện và nguồn lực xã hội. Ba là, tạo điều kiện cho các BVCL liên doanh, liên kết, XHH để thu hút đƣợc một lƣợng vốn cho ngành y tế để đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng khang trang, sạch đẹp, mua sắm trang thiết bị y tế hiện đại, một mặt nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lƣợng dịch vụ KCB, mặt khác góp phần làm giảm gánh nặng đầu tƣ cho y tế bằng nguồn NSNN. Bốn là, TCTC đối với BVCL buộc các đơn vị phải chú trọng đến công tác đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lƣợng cao, mở rộng thêm nhiều loại hình dịch vụ chất lƣợng cao, nâng cao chất lƣợng dịch vụ KCB, nâng cao uy tín bệnh viện để tăng thêm nguồn thu cho bệnh viện, tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho viên chức và ngƣời lao động tại đơn vị. Tác động tiêu cực Ngoài những tác động tích cực khi thực hiện cơ chế TCTC ở BVCL, cũng có thể xảy ra những tác động tiêu cực, cụ thể: Một là, việc giao quyền tự chủ về quản lý điều hành bộ máy, nhân lực nếu không đƣợc kiểm soát chặt chẽ thì có thể dẫn đến một số nguy cơ nhƣ lạm quyền trong việc tiếp nhận và sa thải viên chức và ngƣời lao động tại đơn vị.
Hai là, có thể xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các bệnh viện có cùng chuyên môn trên cùng địa bàn hoặc trong phạm vi lân cận với các BVCL nhƣ miễn giảm viện phí, giảm giá dịch vụ KCB, tặng gói khám sức khỏe 10 tổng quát.v… dễ dẫn đến tình trạng bệnh viện cắt giảm thời gian thăm khám, giảm chất lƣợng dịch vụ, ảnh hƣởng đến sức khỏe của ngƣời bệnh.