CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THU HỘ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước tại Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước tại Ngân hàng thương mại Dịch vụ là một khái niệm phổ biển trong lĩnh vực marketing và kinh doanh. Zeithaml & Bitner (2000) cho rằng dịch vụ được định nghĩa là cách thức, hành vi và quá trình thực hiện một công việc nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Vậy dịch vụ ngân hàng chính là những cách thức, hành vi và quá trình mà NHTM cung cấp sản phẩm cho khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. NHTM cung cấp nhiều nghiệp vụ trung gian như dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thanh toán, dịch vụ giữ hộ tài sản, dịch vụ tư vấn tài chính…Khi NHTM cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì NHTM giữ vai trò là một đơn vị trung gian làm thay khách hàng để được hưởng hoa hồng, phí dịch vụ hoặc một lợi ích nào khác. Một trong những dịch vụ mà NHTM cung cấp cho khách hàng có dịch vụ thu hộ. Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012) cho rằng dịch vụ thu hộ là dịch vụ mà theo yêu cầu của khách hàng, NHTM sẽ thay mặt khách hàng thực hiện việc thu tiền các khoản thu của khách hàng phát sinh khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ và ghi Có vào tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Xét về quan hệ giao dịch với NHTM thì có nhiều đối tượng khách hàng và mỗi khách hàng thì sử dụng những loại hình dịch vụ khác nhau, tùy theo nhu cầu của từng đối tượng khách hàng mà NHTM sẽ cung cấp các loại hình dịch vụ phù hợp. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến loại hình dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước tại NHTM. Ngân sách nhà nước chủ yếu hình thành từ thuế, phí, lệ phí có tính chất thuế; các hoạt động sự nghiệp có thu của các đơn vị sự nghiệp công; vay, viện trợ không hoàn lại; các khoản thu khác và được quản lý bởi KBNN (Luật NSNN, 2015). 10 Nếu như trước kia, việc thu Ngân sách nhà nước được thực hiện bởi KBNN, thì hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ ngân hàng, các NHTM cung cấp cho KBNN dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước, để tập trung kịp thời các khoản thu vào ngân sách.
Với các khái niệm trên thì dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước được hiểu là một dịch vụ mà theo yêu cầu của khách hàng là KBNN, NHTM sẽ thay mặt KBNN thực hiện thu tiền các khoản thu của Nhà nước phát sinh khi người nộp Ngân sách nhà nước thực hiện các nghĩa vụ của mình và ghi Có vào tài khoản tiền gửi thanh toán của KBNN. Khi NHTM cung cấp dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước thì NHTM cũng được hưởng phí dịch vụ và những lợi ích khác từ việc cung cấp dịch vụ như là cải thiện khả năng thanh khoản của ngân hàng, xây dựng hình ảnh thương hiệu của ngân hàng. Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước tại Ngân hàng thương mại Khi cung cấp dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước, NHTM đang thực hiện một trong những chức năng truyền thống đó là làm trung gian thanh toán giữa người nộp Ngân sách nhà nước và KBNN. Đối với dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước thì có 03 (ba) chủ thể tham gia, đó là: KBNN- NHTM- người nộp Ngân sách nhà nước.
Vai trò của các bên tham gia như sau: KBNN với nhiệm vụ chính là quản lý quỹ Ngân sách nhà nước, đây là khách hàng của NHTM trong mối quan hệ này, là người yêu cầu NHTM thu hộ Ngân sách nhà nước cho mình. Chính vì vậy mà KBNN có trách nhiệm đối chiếu toàn bộ thông tin và số liệu về số đã thu Ngân sách nhà nước trên tài khoản của KBNN tại NHTM nơi KBNN mở tài khoản thu hộ, và thông báo kịp thời số phát sinh cho các cơ quan thu có liên quan và thực hiện đối chiếu theo qui định. NHTM trong mối quan hệ này là ngân hàng đã ký thỏa thuận phối hợp thu với KBNN, cơ quan quản lý thu. Trong mối quan hệ này, NHTM có trách nhiệm là khi thu được tiền của người nộp Ngân sách nhà nước thì chuyển tiền vào tài khoản của KBNN và truyền thông tin thu nộp Ngân sách nhà nước sang KBNN ngay trong 11 ngày giao dịch nhằm phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước theo đúng cam kết đã thỏa thuận phối hợp thu Ngân sách nhà nước giữa KBNN, NHTM nơi KBNN mở tài khoản, cơ quan thu và thực hiện đối chiếu cuối ngày với KBNN.
Người nộp Ngân sách nhà nước là người nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của Ngân sách nhà nước. Trong mối quan hệ này, họ là người sử dụng dịch vụ thu hộ ngân sách tại NHTM để thực hiện nghĩa vụ nộp Ngân sách nhà nước. Họ có trách nhiệm khai báo các thông tin liên quan đến các khoản nộp Ngân sách nhà nước để NHTM hạch toán thu tiền. Mối quan hệ giữa 03 (ba) chủ thể trên được thể hiện qua sơ đồ sau đây: Cơ quan thu Người nộp NHTM ( có ký thỏa thuận NSNN KBNN phối hợp thu với KBNN) Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia dịch vụ thu hộ NSNN Để hỗ trợ cho công tác thu hộ Ngân sách nhà nước được chính xác và nhanh chóng thì còn có vai trò của cơ quan thu; tuy nhiên, cơ quan thu không phải là chủ thể tham gia vào mối quan hệ dịch vụ thu hộ giữa KBNN-NHTM- người nộp Ngân sách nhà nước mà chỉ đóng vai trò hỗ trợ, cung cấp thông tin liên quan đến người nộp Ngân sách nhà nước, hạch toán đầy đủ các khoản thu mà KBNN chuyển sang, thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến quyền của người nộp Ngân sách nhà nước.
Qua mối quan hệ trên, NHTM đã thực hiện chức năng trung gian thanh toán của mình thông qua việc cung cấp dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước cho KBNN. Qua đó, KBNN có thể tập trung các khoản thu Ngân sách nhà nước nhanh chóng, 12 kịp thời, người nộp Ngân sách nhà nước thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân sách nhà nước. Các hình thức thu hộ Ngân sách nhà nước tại Ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Minh Kiều (2009) thì hiện nay, các NHTM cung cấp cho khách hàng các hình thức thanh toán qua NHTM sau: Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Lệnh chi. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu- Nhờ thu Thanh toán bằng Séc: Thanh toán bằng thư tín dụng Thanh toán bằng thẻ.
Ở Việt Nam, các NHTM cung cấp dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước chủ yếu dưới hai hình thức là nộp tiền mặt và chuyển khoản (Thông tư 328/2016/TT- BTC ngày 26 tháng 12 năm 2016). Người nộp Ngân sách nhà nước có thể đến giao dịch tại quầy giao dịch của NHTM hoặc sử dụng dịch vụ điện tử do ngân hàng cung cấp như ATM, internet banking, mobile banking, POS…. Hình thức nộp bằng tiền mặt: hình thức này áp dụng cho các NHTM có thỏa thuận phối hợp thu với KBNN về việc thu tiền mặt của người nộp Ngân sách nhà nước vào tài khoản của KBNN mở tại NHTM. Theo đó, người nộp Ngân sách nhà nước sẽ đến NHTM để nộp tiền mặt theo quyết định của cơ quan thu, NHTM sẽ căn cứ vào giấy nộp tiền vào ngân sách của khách hàng để ghi Có vào tài khoản của KBNN thông qua chương trình thu thuế của ngân hàng, Hình thức thu bằng chuyển khoản: ngân hàng căn cứ vào tài khoản của người nộp ngân sách mở tại ngân hàng để chuyển tiền vào tài khoản của KBNN và ghi thu NSNN.
Ngoài ra, người nộp Ngân sách nhà nước vẫn thực hiện nghĩa vụ của mình mà không cần đến quầy giao dịch của NHTM để nộp tiền, mà có thể ngồi ở nhà để nộp Ngân sách nhà nước thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng Cục Thuế, khi Tổng cục Thuế nhận được chứng từ hợp lệ do người nộp Ngân sách nhà nước lập thì sẽ chuyển đến hệ thống tác nghiệp của ngân hàng nơi mà người nộp Ngân sách 13 nhà nước mở tài khoản, tại đây hệ thống tác nghiệp của ngân hàng thực hiện trích Nợ tài khoản của người nộp Ngân sách nhà nước để thu Ngân sách nhà nước. Vậy hiện nay các NHTM có rất nhiều hình thức thu hộ Ngân sách nhà nước để cung cấp cho người nộp Ngân sách nhà nước như thu bằng tiền mặt, chuyển khoản, séc, thấu chi… Việc phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử cũng góp phần không nhỏ trong việc làm đa dạng các hình thức thu hộ ngân sách. Lý luận về nâng cao chất lượng dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm nâng cao chất lượng dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước Cronin & Taylor (1992) cho rằng chất lượng dịch vụ là một cấu trúc khó nắm bắt và trừu tượng vì khó mà định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ.
Theo kết quả nghiên cứu của Lehtinen (1982) thì chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa trên hai khía cạnh là quá trình cung cấp dịch vụ và kết quả của dịch vụ. Chất lượng dịch vụ được đánh giá dựa vào văn hóa, lĩnh vực, ngành nghề, nó trở thành một công cụ marketing chính để phân biệt với các đối thủ cạnh tranh và thúc đẩy lòng trung thành của khách hàng. Khách hàng chỉ có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ sau khi đã mua và sử dụng. Do vậy mà định nghĩa về chất lượng dịch vụ thường mang tính chủ quan, dựa vào thái độ và cảm nhận, sự hiểu biết của người sử dụng dịch vụ.
Trong xu hướng phát triển của ngân hàng hiện nay, các ngân hàng được xem như một nơi cung cấp cho khách hàng sự lựa chọn đa dạng các loại hình dịch vụ khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng; khái niệm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng cũng trở nên phổ biến, và yêu cầu đặt ra cho các ngân hàng hiện nay là phải phát triển đa dạng và nâng cao chất lượng nghiệp vụ kinh doanh của mình. Đối với các hoạt động về dịch vụ trong đó có dịch vụ thu hộ Ngân sách nhà nước thì đang được các NHTM đầu tư về máy móc thiết bị, công nghệ, nhân lực, hoạt động marketing, xây dựng hình ảnh, thương hiệu…để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh giữa các ngân hàng.