CHƯƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM I. KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ 1. Khái niệm Tại Việt Nam, quan điểm thời kỳ trước Đổi mới cho rằng khi xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa thì đồng thời phải xóa bỏ thị trường, cạnh tranh và kéo theo đó là khả năng cạnh tranh. Trong kinh tế đối ngoại, khái niệm này cũng hầu như không tồn tại vì 70 - 80% hoạt động ngoại thương và trên 90% ODA của Việt Nam được thực hiện theo những nghị định thư ký kết hàng năm trên tinh thần giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau giữa các nước xã hội chủ nghĩa.
Nhưng từ năm 1986, với chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại cùng việc mất đi chỗ dựa là Liên Xô và các nước Đông Âu, nước ta đã thực sự tham gia vào thị trường khu vực và thế giới đầy tính cạnh tranh và đào thải. Làm thế nào để có thể giữ vững vị thế của hàng nội địa tại thị trường trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nhanh chóng trở thành những vấn đề có tính thời sự cấp bách. Và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cũng theo đó thu hút được sự quan tâm của mọi cấp, mọi ngành. Vậy khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là gì ? Khi nói về khái niệm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế (hay còn gọi là khả năng cạnh tranh quốc gia), các nhà chuyên môn của Việt Nam thường trích dẫn lại những định nghĩa do Ủy ban Cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ, Diễn đàn Kinh tế thế giới và OECD đưa ra: Theo Ủy ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là "mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó".
Theo Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (World Economic Forum - WEF), khả năng cạnh tranh đối với một quốc gia là "khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian". Còn Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cố gắng kết hợp cả khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành và quốc gia trong một định nghĩa chung. Đó là "khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" [14, tr. Những định nghĩa trên là chưa cụ thể và không phù hợp với cách hiểu của người Việt Nam.
Theo sự nhìn nhận của cá nhân người viết, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chủ yếu là khả năng thu hút, hấp thụ đầu tư (đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài) và xác lập, duy trì, gia tăng lợi nhuận và thị phần của hàng hóa (hữu hình và vô hình) do nền kinh tế đó sản xuất ra trên thị trường trong nước và quốc tế. Như vậy, khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng cạnh tranh của nền kinh tế không phải là khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp hay khả năng cạnh tranh của hàng hóa. Đó là 3 cấp độ khác nhau. Có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Lại có quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là kết quả phép cộng khả năng cạnh tranh của tất cả các hàng hóa do nền kinh tế sản xuất ra. Trên thực tế, những quan điểm này chưa trọn vẹn vì mới đề cập đến năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thương mại. Để có năng lực cạnh tranh trong thu hút và hấp thụ đầu tư thì sức mạnh của doanh nghiệp và hàng hóa không phải là yếu tố duy nhất. Muốn có được cái nhìn đầy đủ, ta hãy xem xét những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Những tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Từ những khác biệt về cách tiếp cận và môi trường nghiên cứu, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều tiêu chí khác nhau. Theo Michael Porter, tác giả cuốn sách "Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia" (The Competitive Advantages of Nations), khả năng cạnh tranh của nền kinh tế được quyết định bởi sự tác động qua lại giữa 6 nhân tố cơ bản: - Các điều kiện sản xuất vốn có (lao động, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý.) - Các điều kiện của thị trường nội địa (số lượng cầu, sự đòi hỏi của người tiêu dùng.) - Các ngành công nghiệp bổ trợ và liên đới - Chiến lược, cơ cấu của các công ty và sự cạnh tranh trong nội bộ ngành - Chính phủ - Các nhân tố ngẫu nhiên. Trong 6 nhân tố thì 4 nhân tố đầu đóng vai trò quyết định. Nếu lợi thế dựa trên 1 trong 4 nhân tố được phát huy ở mức độ cao thì lợi thế dựa trên các nhân tố khác sẽ dần xuất hiện do có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân tố.
Và chỉ khi đó lợi thế cạnh tranh của một quốc gia mới được giữ vững. Việc mất lợi thế cạnh tranh dựa trên một trong những nhân tố trên cũng dễ dẫn đến việc mất lợi thế dựa trên những nhân tố khác và sau đó là của cả quốc gia [20, tr. Trên thực tế, trước năm 1996, để đánh giá và xếp hạng khả năng cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới, Diễn đàn Kinh tế thế giới đã kết hợp với Viện Phát triển quản lý quốc tế (International Institute for Management Development - IMD) sử dụng mô hình tuyến tính đa nhân tố bao gồm 381 chỉ số. Những chỉ số này được phân làm 8 nhóm nhân tố: độ mở cửa, chính phủ, hệ thống tài chính - tiền tệ, công nghệ, cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý của doanh nghiệp, nguồn nhân lực và thể chế.
Tuy nhiên, từ năm 1996 WEF và IMD quyết định đánh giá năng lực cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới theo những phương pháp riêng. Đối với IMD, phương pháp tính toán cũ hầu như được giữ nguyên, chỉ lược bỏ các chỉ số xuống còn 224. Về phần mình, WEF cũng giảm bớt số lượng chỉ số xuống còn 155, vừa kết hợp điều tra theo mẫu ở từng nước, vừa thăm dò ý kiến của 1500 công ty trên thế giới. Khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với IMD, WEF không tiếp tục xem xét một số chỉ số như sự tăng trưởng của GDP, của xuất khẩu và của dòng FDI vào trong nước vì cho rằng đó là kết quả chứ không phải là nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của một quốc gia.
WEF còn nhận định các nhóm nhân tố có tỷ trọng ảnh hưởng khác nhau. Từ năm 2000, WEF lại có sự điều chỉnh các nhóm tiêu chí, gộp thành 3 nhóm lớn là: sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ, tài chính và quốc tế hóa, trong đó trọng số của sáng tạo kinh tế, khoa học công nghệ đã tăng mạnh từ 1/9 lên 1/3 [12] [20]. Còn ở Việt Nam ta, năng lực cạnh tranh quốc gia thường được nhìn nhận theo các nhân tố sau 1 : - Sự ổn định chính trị và trật tự - an toàn xã hội (nhất là sau sự kiện 11/9) - Hệ thống pháp luật - Hệ thống tài chính - tiền tệ - Kết cấu hạ tầng - Bộ máy hành chính - Nguồn nhân lực Sau khi xem xét các cách đánh giá, theo người viết, những nhóm tiêu chí thường được sử dụng nhất khi đánh giá khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là: tình hình chính trị - xã hội, hoạt động của Chính phủ, hệ thống tài chính - tiền tệ, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, độ mở cửa của nền kinh tế, hệ thống pháp luật, trình độ công nghệ, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực và lợi thế tự nhiên. Tuy tầm quan trọng và ảnh hưởng có khác nhau, giữa các nhân tố trên luôn có mối quan hệ tương tác qua lại và năng lực cạnh tranh quốc gia là sự cộng hưởng của tất cả.
Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều theo đuổi nền kinh tế mở; theo đó, các quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt là ngoại thương và đầu tư đóng vai trò ngày một quan trọng. Quốc gia nào cũng cố gắng đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư trong khi trên thị trường thế giới, mức cung nhiều mặt hàng đã dư thừa còn nhu cầu đối với vốn và công nghệ vẫn là vô hạn. Thực tế này buộc họ phải tham gia vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong thương mại và thu hút đầu tư. Phần thắng sẽ thuộc về ai có sức cạnh tranh cao hơn và thất bại đồng nghĩa với sự tụt hậu xa hơn nữa về kinh tế.
Vì vậy, năng lực cạnh tranh trở thành yếu tố quyết định vị trí của nền kinh tế quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Có được năng lực cạnh tranh càng cao thì nền kinh tế càng phát triển và ngược lại. "Hội nhập để phát triển". Tạp chí Cộng sản số đặc biệt + 2/2002.21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một điều đáng nói nữa là khả năng cạnh tranh quốc gia luôn thay đổi.
Trong các Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF, Singapore đứng vị trí số 1 trong suốt 3 năm 1998, 1999, 2000 số 2 năm 2001 nhưng lại xuống thứ 10 năm 2002. Hà Lan có vị trí 12 năm 1998, lên 7 năm 1999, xuống 9 năm 2000 song lại vươn lên thứ 3 năm 2002. 2 ví dụ trên chứng tỏ năng lực cạnh tranh cao ở hiện tại không đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh cao trong tương lai và ngược lại. Điều này buộc các nền kinh tế không ngừng nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.