Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Doãn Thị Mai Hương (Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, năm 2003) với đề tài "Cải cách doanh nghiệp Nhà nước là quá trình tất yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam" được thực hiện trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Kể từ năm 1986, khi Việt Nam xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và thực hiện đường lối Đổi mới, nền kinh tế đã từng bước chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiến trình hội nhập được đánh dấu qua các mốc lịch sử: gia nhập ASEAN và tham gia Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM) năm 1996, trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998, ký kết Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) năm 2000 và tích cực đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Bên cạnh những cơ hội tiếp cận thị trường và thu hút vốn, nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng về năng lực cạnh tranh quốc gia rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế đặt ra yêu cầu cấp bách phải nâng cao sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, trong đó cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) được xác định là khâu then chốt.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là phân tích và chứng minh luận điểm: cải cách doanh nghiệp Nhà nước là một quá trình tất yếu khách quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong điều kiện mở cửa. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và vị trí, vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thông qua các tiêu chí quốc tế và thực tiễn hoạt động của khối DNNN.
- Phân tích quá trình cải cách DNNN đã triển khai, chỉ rõ những kết quả đạt được cùng những tồn tại, yếu kém và nguyên nhân cốt lõi cản trở hiệu quả hoạt động của khu vực này.
- Đề xuất phương hướng, mục tiêu và các hệ thống giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh cải cách DNNN, từ đó nâng cao sức cạnh tranh tổng thể của quốc gia.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào quá trình cải cách DNNN gắn liền với các tiêu chí và nhân tố cấu thành khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Phạm vi nghiên cứu về không gian bao quát hệ thống DNNN tại Việt Nam (bao gồm các DNNN trực thuộc Trung ương, DNNN địa phương và các mô hình Tổng công ty Nhà nước). Phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ khi bắt đầu Đổi mới (1986) đến năm 2002, sử dụng các số liệu thống kê thực trạng chủ yếu từ năm 1991 đến năm 2002, đồng thời xác lập các định hướng và kế hoạch sắp xếp doanh nghiệp đến năm 2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia và các học thuyết kinh tế về doanh nghiệp Nhà nước. Về khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tác giả khảo cứu định nghĩa của các tổ chức quốc tế:
- Ủy ban Cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ: Khả năng cạnh tranh là mức độ sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng đòi hỏi của thị trường quốc tế dưới điều kiện thị trường tự do, công bằng, đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của người dân.
- Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF): Khả năng của một quốc gia đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và nâng cao mức sống, đo bằng sự thay đổi của GDP bình quân đầu người theo thời gian.
- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Từ việc phân tích các định nghĩa trên, tác giả đưa ra quan niệm riêng: Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế chủ yếu là khả năng thu hút, hấp thụ các nguồn vốn đầu tư (trong nước và nước ngoài), đồng thời xác lập, duy trì và gia tăng lợi nhuận cùng thị phần của hàng hóa (hữu hình và vô hình) do nền kinh tế sản xuất trên thị trường nội địa và quốc tế. Tác giả vận dụng mô hình "Kim cương" về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter trong tác phẩm The Competitive Advantages of Nations, bao gồm 6 nhân tố tác động qua lại: điều kiện các yếu tố sản xuất vốn có; điều kiện nhu cầu nội địa; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên đới; chiến lược, cơ cấu doanh nghiệp và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành; vai trò của Chính phủ; các yếu tố biến cố ngẫu nhiên. Đồng thời, nghiên cứu phân tích hệ thống chỉ tiêu đánh giá của Viện Phát triển Quản lý Quốc tế (IMD) và WEF.
Về lý luận DNNN, đề tài làm rõ tính tất yếu khách quan qua 5 giác độ: công cụ khắc phục khuyết tật của kinh tế thị trường; công cụ kinh tế để Nhà nước điều tiết vĩ mô; bộ phận định hướng và dẫn dắt các thành phần kinh tế; hình thức xã hội hóa sản xuất về mặt sở hữu; và công cụ bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Khóa luận tiếp thu quan niệm của Malcolm Gillis (xác định DNNN qua 3 tiêu chuẩn: quyền kiểm soát của Chính phủ, sản xuất hàng hóa/dịch vụ thương mại, và tự chịu trách nhiệm thu chi) và quan niệm của V.V Ramanadham (DNNN là sự kết hợp giữa yếu tố công ích và yếu tố doanh nghiệp hoạt động bù đắp chi phí). Tại Việt Nam, khái niệm DNNN được đối chiếu qua các mốc văn bản pháp lý: Quyết định 217/HĐBT (1987), Nghị định 50/HĐBT (1988), Nghị định 388/HĐBT (1991), Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 1995, cùng các quan điểm đổi mới tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX và Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX).
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu học thuật bao gồm:
- Phương pháp biện chứng duy vật và phương pháp lôgíc nhằm xem xét quá trình vận động của thể chế kinh tế.
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học để phân tách các tầng nấc cạnh tranh (sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu kinh tế.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
- Phương pháp liệt kê, thống kê so sánh.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các báo cáo quốc tế (Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của WEF, dữ liệu của IMD, Tổ chức Minh bạch Quốc tế TI, Tổ chức Tư vấn Rủi ro Kinh tế và Chính trị PERC, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF) và dữ liệu chính thức trong nước (Ban Đổi mới Quản lý Doanh nghiệp Trung ương, Bộ Tài chính, kết quả điều tra doanh nghiệp tháng 4/2002 của Tổng cục Thống kê).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Sự cần thiết khách quan của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Chương này tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh và vai trò của khối DNNN. Tác giả khẳng định khả năng cạnh tranh của nền kinh tế không phải là phép cộng số học giản đơn giữa sức cạnh tranh của các doanh nghiệp hay sản phẩm, mà là năng lực tổng hợp phụ thuộc vào môi trường thể chế, kết cấu hạ tầng, hệ thống tài chính và hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô. Khảo sát thứ hạng quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của Việt Nam ở mức rất thấp và có xu hướng suy giảm:
| Năm đánh giá |
Vị trí của Việt Nam |
Tổng số quốc gia xếp hạng |
| 1998 |
43 |
53 |
| 1999 |
50 |
53 |
| 2000 |
53 |
59 |
| 2001 |
62 |
75 |
| 2002 |
60 |
75 |
Năm 2002, dù xếp hạng tổng thể đạt 60/75, chỉ số cạnh tranh tăng trưởng trong trung hạn (5-8 năm) của Việt Nam tụt từ 60 xuống 65. Hầu hết các chỉ số thành phần đều ở nhóm cuối: công nghệ thông tin xếp thứ 74; công nghệ và tham nhũng xếp thứ 68; chiến lược và hoạt động doanh nghiệp xếp thứ 67; chất lượng môi trường kinh doanh đứng thứ 64/75. Báo cáo của TI năm 2002 xếp mức độ tham nhũng của Việt Nam ở nhóm 11/99, kém hơn Thái Lan (nhóm 16), Trung Quốc (nhóm 18), Philippines (nhóm 20). PERC xếp Việt Nam đứng cuối bảng về tính minh bạch tài chính (9,63/10 điểm tiêu cực).
Trong phần thứ hai, tác giả phân tích vị trí then chốt và 6 vai trò kinh tế - xã hội cốt lõi của DNNN:
- Đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP, thu hút vốn, giải quyết việc làm và thực hiện an sinh xã hội.
- Chi phối các ngành, lĩnh vực và sản phẩm trọng yếu (điện, than, xi măng, phân bón, sắt thép, xăng dầu).
- Làm lực lượng nòng cốt bảo đảm tăng trưởng, xuất khẩu và nguồn thu ngân sách nhà nước, giữ vững ổn định vĩ mô.
- Cung ứng tư liệu sản xuất và hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất.
- Là công cụ vật chất trực tiếp để Nhà nước can thiệp điều tiết thị trường khi khu vực tư nhân không đủ năng lực hoặc không muốn đầu tư.
- Đi đầu trong ứng dụng khoa học kỹ thuật và đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật quy mô lớn.
Chương II: Cải cách doanh nghiệp Nhà nước là quá trình tất yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Nội dung chương II phản ánh toàn diện tiến trình thực hiện và những mắt xích nghẽn trong cải cách DNNN. Về mặt chính sách, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật, chuyển từ quản lý trực tiếp bằng giao chỉ tiêu pháp lệnh sang cơ chế giao vốn, xác định vốn điều lệ, trao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định 59/CP và Nghị định 27/1999/NĐ-CP; xóa bỏ dần chế độ bao cấp bù lỗ qua ngân sách.
Quá trình sắp xếp, tổ chức lại DNNN được thực hiện qua việc sàng lọc theo Quyết định 315/HĐBT (1990) và Nghị định 388/HĐBT (1991). Sau khi rà soát và thành lập lại, cả nước hình thành mô hình tập đoàn nòng cốt với 17 Tổng công ty 91 (gồm 532 doanh nghiệp thành viên) và 77 Tổng công ty 90 (gồm 860 doanh nghiệp thành viên). Tính đến tháng 12/2002, các Tổng công ty Nhà nước nắm giữ 25,16% tổng số lượng DNNN nhưng chiếm tới 65% tổng nguồn vốn và 61% lực lượng lao động của toàn bộ khu vực quốc doanh.
| Chỉ tiêu hoạt động của 17 Tổng công ty 91 |
Năm 1996 |
Năm 2001 |
Chênh lệch |
| Số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh |
492 |
532 |
+40 |
| Số doanh nghiệp hòa vốn |
12 |
12 |
0 |
| Số doanh nghiệp lỗ |
50 |
23 |
-27 |
| Số doanh nghiệp có lãi |
436 |
361 |
-75 |
| Tổng số vốn kinh doanh (tỷ đồng) |
61.473 |
85.534 |
+24.061 |
| - Trong đó: Vốn tự bổ sung (tỷ đồng) |
10.290 |
14.914 |
+4.624 |
| Lao động (nghìn người) |
566 |
603 |
+37 |
| Doanh thu (tỷ đồng) |
72.143 |
122.460 |
+50.317 |
| Lãi trước thuế (tỷ đồng) |
9.651 |
12.189 |
+2.538 |
| Nộp ngân sách nhà nước (tỷ đồng) |
17.127 |
23.468 |
+6.360 |
| Nợ ngân sách nhà nước (tỷ đồng) |
2.441 |
1.131 |
-1.310 |
| Nợ vay ngân hàng (tỷ đồng) |
13.404 |
35.700 |
+22.296 |
| Nợ phải thu (tỷ đồng) |
20.628 |
19.899 |
-729 |
Về công tác cổ phần hóa, sau giai đoạn thí điểm theo Quyết định 143/HĐBT (1990) và Quyết định 202/CT (1992), khung khổ pháp lý được hoàn thiện qua Nghị định 28/CP (1996) và Nghị định 44/1998/NĐ-CP, mở rộng các phương thức bán một phần hoặc toàn bộ vốn nhà nước và áp dụng cơ chế giảm giá 30% giá trị cổ phần ưu đãi cho người lao động.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN vẫn bộc lộ nhiều hạn chế nghiêm trọng:
- Năm 2002: Chỉ có 40% số DNNN hoạt động hiệu quả, 31% ở trạng thái bấp bênh khi lãi khi lỗ, và 29% liên tục thua lỗ. DNNN quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm 24,75% (trong đó vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 5,73%).
- Phân tích mẫu 5.068 DNNN (giai đoạn 1995–1997): Tỷ lệ doanh nghiệp lỗ 3 năm liên tiếp chiếm 40,3% tổng số cơ sở (nắm 3,8% vốn, tạo ra 1,7% doanh thu và chiếm 3,8% nộp ngân sách, với số lỗ lũy kế bằng 38% vốn nhà nước giao). Trong nhóm lỗ kéo dài này, doanh nghiệp vốn dưới 1 tỷ đồng chiếm 30,6%; từ 1-3 tỷ đồng chiếm 34,1%; từ 3-10 tỷ đồng chiếm 23,3%; và trên 10 tỷ đồng chiếm 12%. Ngược lại, nhóm có lãi cả 3 năm chiếm 59,7% số lượng (nắm 67% vốn, tạo ra 80% doanh thu và 91% tổng số lãi).
- Diễn biến tỷ lệ DNNN kinh doanh thua lỗ qua các năm: năm 1993 là 8%; năm 1995 là 16%; năm 1996 là 21%; năm 1997 là 17%; năm 1998 là 25%; năm 1999 là 17%; và năm 2000 là 20%. Năm 2001, các DNNN thuộc Bộ Nông nghiệp lỗ 34%, ngành Thủy sản lỗ 45%; tại địa phương, tỷ lệ lỗ ở Nam Định là 46%, Thái Bình 35%, Hà Nam 33%, Hải Phòng 21%, Bà Rịa – Vũng Tàu 21%.
- Công nghệ, máy móc lạc hậu khiến chi phí sản xuất trung gian rất lớn. Theo kết quả điều tra doanh nghiệp tháng 4/2002 của Tổng cục Thống kê, cơ cấu chi phí ngành công nghiệp của DNNN năm 2001 như sau:
| Khối doanh nghiệp |
Tổng chi phí sản xuất (triệu đồng) |
Nguyên vật liệu & phụ tùng (%) |
Nhiên liệu (%) |
Điện năng (%) |
Dịch vụ thuê ngoài (%) |
| Cả nước |
62.245.402 |
80,88 |
4,22 |
4,89 |
10,01 |
| - Trung ương |
37.415.124 |
80,56 |
5,49 |
5,66 |
8,29 |
| - Địa phương |
24.830.278 |
81,34 |
2,31 |
3,75 |
12,60 |
Hệ số tiết kiệm chi phí của các DNNN ngành công nghiệp chỉ đạt 48%. Tình trạng công nghệ cũ kỹ và tổn thất định mức khiến giá thành sản phẩm của DNNN cao vượt trội: giá điện cao hơn khu vực 25%, giá nước cao hơn 71%, cước viễn thông quốc tế cao hơn 130% (gấp 2 lần Hoa Kỳ), cước thuê container gấp 1,6 lần Thái Lan, giá đường kính gấp đôi, và giá xi măng cao hơn xi măng nhập khẩu từ Thái Lan 39%. Tỷ lệ tổn thất điện năng lên tới 16% và nước sạch là 60% (trong khi chuẩn mực quốc tế dưới 10%).
Khóa luận phân loại nguyên nhân tồn tại thành 3 nhóm lớn:
- Nhận thức chủ quan: Duy trì sự bảo hộ quá mức đối với DNNN, chưa tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, tạo tâm lý ỷ lại.
- Thể chế quản lý: Chưa phân định rõ đại diện chủ sở hữu nhà nước với quyền quản trị kinh doanh; tình trạng "vô chủ" dẫn tới vô trách nhiệm tập thể; Hội đồng quản trị hoạt động hình thức; cơ chế bổ nhiệm giám đốc theo nhiệm kỳ hành chính không gắn liền quyền lợi và trách nhiệm lâu dài.
- Hạn chế nội tại: Vốn mỏng, thiết bị cũ kỹ (đặc biệt là công nghệ xi măng lò đứng nhập từ Trung Quốc), bộ máy cồng kềnh, trình độ công nhân bậc thợ thấp và đội ngũ quản lý thiếu kiến thức kinh tế thị trường.
Chương III: Giải pháp tiếp tục cải cách DNNN nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Trên cơ sở Nghị quyết Trung ương 3 (khóa IX), tác giả xác định quan điểm cải cách phải gắn liền với hội nhập kinh tế quốc tế và giảm nhanh diện doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Nhà nước chỉ tập trung vào 35 ngành, lĩnh vực then chốt (gồm 12 ngành Nhà nước độc quyền và 23 ngành Nhà nước giữ cổ phần chi phối); phấn đấu đến năm 2005 chỉ giữ lại khoảng 2.000 DNNN sở hữu 100% vốn.
| Phân loại theo quy mô vốn |
Kế hoạch năm 2002 (Số DN) |
Tỷ trọng năm 2002 (%) |
Kế hoạch 2003–2005 (Số DN) |
Tổng giai đoạn đến 2005 (Số DN) |
Tỷ trọng tổng thể (%) |
| Vốn trên 10 tỷ đồng |
94 |
12,6 |
100 |
194 |
11,1 |
| Vốn từ 1 tỷ đến dưới 10 tỷ |
366 |
48,9 |
900 |
1.266 |
72,4 |
| Vốn dưới 1 tỷ đồng |
289 |
38,5 |
- |
289 |
16,5 |
| Tổng cộng |
749 |
100,0 |
1.000 |
1.749 |
100,0 |
Trong tổng số 749 doanh nghiệp dự kiến sắp xếp năm 2002, tỷ trọng các hình thức chuyển đổi gồm: cổ phần hóa 374 doanh nghiệp (49,9%); sáp nhập và hợp nhất 94 doanh nghiệp (12,5%); chuyển thành đơn vị sự nghiệp 12 doanh nghiệp (1,6%); thực hiện giải thể hoặc phá sản 141 doanh nghiệp (18,9%). Đối với các doanh nghiệp quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng hoặc dưới 5 tỷ đồng thua lỗ kéo dài trên 2 năm mà Nhà nước không cần nắm giữ, áp dụng Nghị định 103/1999/NĐ-CP để giao, bán, khoán hoặc cho thuê.
Các nhóm giải pháp được đề xuất gồm:
- Nâng cao năng lực nội tại: Huy động vốn đa dạng, xóa bỏ tình trạng nợ dây dưa; hiện đại hóa công nghệ để giảm tiêu hao vật tư; sắp xếp lại lao động dôi dư; chuyển hẳn từ cơ chế bổ nhiệm hành chính sang ký hợp đồng thuê giám đốc điều hành, gắn thu nhập với kết quả kinh doanh.
- Đổi mới tổ chức hệ thống: Đẩy nhanh cổ phần hóa; chuyển đổi các DNNN đủ điều kiện sang hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên hoặc Công ty cổ phần; thành lập Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước để quản lý vốn chuyên trách; chuyển đổi mô hình Tổng công ty 90, 91 sang mô hình công ty mẹ - công ty con.
- Đổi mới quản lý của Nhà nước: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ Bộ chủ quản và cấp hành chính chủ quản; phân tách dứt khoát chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với quyền đại diện sở hữu vốn nhà nước; cải cách triệt để thủ tục hành chính trong phê duyệt đầu tư và cấp tín dụng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân tích một hệ thống dữ liệu kinh tế xác thực phản ánh toàn cảnh khu vực kinh tế nhà nước giai đoạn 1996–2002:
- Cung cấp số liệu chi tiết của 17 Tổng công ty 91: vốn kinh doanh tăng 24.061 tỷ đồng (đạt 85.534 tỷ năm 2001), nộp ngân sách tăng từ 17.127 tỷ lên 23.468 tỷ đồng, nhưng nợ vay ngân hàng tăng vọt từ 13.404 tỷ lên 35.700 tỷ đồng, số doanh nghiệp có lãi giảm 75 đơn vị.
- Đưa ra bằng chứng định lượng về sự yếu kém của cơ cấu chi phí ngành công nghiệp qua số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê năm 2002 (nguyên vật liệu và phụ tùng chiếm 80,88%, chi phí dịch vụ thuê ngoài chiếm 10,01%).
- Chỉ ra mức độ đắt đỏ của chi phí đầu vào độc quyền (nước cao hơn 71%, cước điện thoại cao hơn 130%, xi măng cao hơn 39% so với khu vực).
Về mặt giải pháp, đề tài đóng góp hệ thống kiến nghị đồng bộ: đề xuất lộ trình cụ thể giảm số lượng DNNN từ hơn 5.000 xuống còn 2.000 đơn vị đến năm 2005; phân định rành mạch 35 ngành then chốt; đề xuất chuyển đổi quan hệ nhân sự cấp cao thông qua cơ chế hợp đồng thuê giám đốc điều hành; và áp dụng triệt để mô hình Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước để chuyên nghiệp hóa công tác đại diện chủ sở hữu.
Đóng góp khoa học của khóa luận thể hiện ở việc liên kết trực tiếp giữa năng lực vi mô của khu vực DNNN với sức cạnh tranh vĩ mô của quốc gia. Tác giả chứng minh rằng việc bảo hộ và trợ cấp cho các DNNN làm ăn kém hiệu quả chính là nguyên nhân trực tiếp đẩy giá thành hàng hóa, dịch vụ lên cao, làm xói mòn lợi thế cạnh tranh quốc gia trong quá trình thực thi các cam kết AFTA và BTA.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện tại thời điểm năm 2003:
- Tác giả tự nhìn nhận những giới hạn về mặt thời gian và tầm hiểu biết trong quá trình tổng hợp khối lượng tư liệu lớn của toàn bộ hệ thống DNNN.
- Số liệu thực trạng kinh tế vi mô và tài chính doanh nghiệp chủ yếu dừng lại ở các mốc khảo sát năm 2001 và 2002; số liệu thực thi của năm 2002 mới chỉ phản ánh một phần kế hoạch sắp xếp.
- Phương án thành lập Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước và cơ chế thuê giám đốc điều hành mới dừng lại ở mức gợi mở định hướng, chưa có điều kiện khảo sát thực nghiệm trên mô hình cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp theo từ văn bản:
- Theo dõi và đánh giá tác động thực tế của lộ trình cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ hạn ngạch nhập khẩu theo cam kết AFTA đối với các ngành hàng độc quyền của DNNN (đặc biệt là ngành xi măng, mía đường và thép).
- Đánh giá kết quả triển khai đề án sắp xếp 1.749 DNNN giai đoạn 2002–2005 trên thực tế sau khi các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế cần tìm hiểu lịch sử chuyển đổi thể chế kinh tế Việt Nam giai đoạn tiền gia nhập WTO.
- Các nhà nghiên cứu và người thực hiện đề tài liên quan đến tái cơ cấu kinh tế nhà nước, cổ phần hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Bảng tổng hợp các văn bản pháp luật điều chỉnh khu vực DNNN từ Quyết định 217/HĐBT (1987) đến các Nghị định giai đoạn 1998–1999 tại Chương II.
- Hệ thống dữ liệu tài chính của 17 Tổng công ty 91 và số liệu khảo sát cơ cấu chi phí sản xuất ngành công nghiệp năm 2001.
- Các phân tích lý luận về mâu thuẫn giữa cơ chế Hội đồng quản trị và Ban giám đốc, tình trạng "vô chủ" và giải pháp đổi mới quản trị nhân sự cấp cao của DNNN.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận định nghĩa khả năng cạnh tranh của nền kinh tế khác biệt như thế nào so với các tổ chức quốc tế?
Tác giả cho rằng các định nghĩa của Tổng thống Mỹ, WEF hay OECD quá rộng hoặc chưa phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Theo tác giả, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế tập trung vào hai năng lực cốt lõi: khả năng thu hút và hấp thụ các dòng vốn đầu tư (cả trong nước và FDI), cùng khả năng xác lập, duy trì, gia tăng thị phần và lợi nhuận cho hàng hóa sản xuất ra trên cả thị trường nội địa lẫn quốc tế.
2. Tác giả sử dụng những căn cứ nào để khẳng định năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2002 ở mức rất thấp?
Khóa luận căn cứ vào bảng xếp hạng Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu của WEF năm 2002, khi Việt Nam xếp thứ 60/75 nước về năng lực cạnh tranh hiện tại, nhưng chỉ số cạnh tranh tăng trưởng tụt xuống thứ 65/75. Các chỉ số thành phần quan trọng đều đứng áp chót: CNTT (74/75), công nghệ và tham nhũng (68/75), chất lượng môi trường kinh doanh (64/75). Đồng thời, PERC xếp Việt Nam đứng cuối bảng về tính minh bạch tài chính với điểm tiêu cực 9,63/10.
3. Tình trạng tài chính và hiệu quả của 17 Tổng công ty 91 biến động ra sao trong giai đoạn 1996–2001?
Theo số liệu khóa luận công bố, từ năm 1996 đến năm 2001, vốn kinh doanh của 17 Tổng công ty 91 tăng từ 61.473 tỷ lên 85.534 tỷ đồng, doanh thu tăng từ 72.143 tỷ lên 122.460 tỷ đồng. Tuy nhiên, số đơn vị có lãi giảm từ 436 xuống 361 doanh nghiệp, và dư nợ vay ngân hàng tăng vọt từ 13.404 tỷ lên 35.700 tỷ đồng (tăng thêm 22.296 tỷ đồng).
4. Vì sao giá thành sản phẩm của các DNNN Việt Nam lại cao hơn nhiều so với khu vực?
Khóa luận chỉ ra nguyên nhân chủ yếu do chi phí đầu vào trung gian quá lớn và công nghệ lạc hậu. Trong ngành công nghiệp, chi phí nguyên vật liệu và phụ tùng chiếm tới 80,88% tổng chi phí sản xuất năm 2001; tỷ lệ tổn thất điện năng lên đến 16% và nước sạch là 60%. Điều này khiến giá điện cao hơn khu vực 25%, nước cao hơn 71%, cước viễn thông quốc tế cao hơn 130%, và giá xi măng cao hơn 39% so với hàng nhập từ Thái Lan.
5. Mục tiêu và lộ trình sắp xếp số lượng DNNN giai đoạn 2002–2005 được đề ra như thế nào?
Đề tài nêu rõ kế hoạch sắp xếp 1.749 DNNN đến năm 2005 (trong đó doanh nghiệp vốn 1-10 tỷ đồng chiếm 72,4% với 1.266 đơn vị). Riêng năm 2002 thực hiện sắp xếp 749 doanh nghiệp, trọng tâm là cổ phần hóa 374 cơ sở (chiếm 49,9%) và giải thể/phá sản 141 cơ sở (chiếm 18,9%). Mục tiêu dài hạn đến năm 2005 là tinh giảm số lượng DNNN 100% vốn nhà nước xuống còn khoảng 2.000 đơn vị, chỉ tập trung vào 35 ngành, lĩnh vực then chốt.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Doãn Thị Mai Hương đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu thông qua việc chứng minh tính tất yếu khách quan của quá trình cải cách doanh nghiệp Nhà nước đối với việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thời kỳ mở cửa. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết kinh tế hiện đại và hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 1991–2002, công trình đã vạch rõ những khuyết tật cốt lõi về cơ chế quản lý, cơ cấu chi phí và thực trạng tài chính của khối doanh nghiệp quốc doanh. Những phương hướng và hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận—từ đẩy mạnh cổ phần hóa, đổi mới cơ chế đại diện chủ sở hữu đến chuyển đổi mô hình quản trị theo thị trường—mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho tiến trình tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam giai đoạn hội nhập.