Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế cá thể và tiểu chủ giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tại Việt Nam. Tính đến năm 2006, cả nước đã có 3.053.011 cơ sở kinh doanh cá thể, thu hút 5.583.617 lao động và đóng góp ổn định khoảng 29,78% vào tổng sản phẩm quốc nội (tương đương 340,7 nghìn tỷ đồng trên tổng số 1.144 nghìn tỷ đồng GDP năm 2007). Mặc dù tạo ra nguồn sinh kế to lớn cho xã hội, chính sách thuế đối với khu vực này trong suốt giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2008 vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Hệ thống pháp luật thuế chủ yếu tập trung ưu tiên cho khối doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong khi áp dụng một cách gò ép các quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp lên các hộ gia đình quy mô nhỏ.

Hệ quả là tình trạng thất thu thuế diễn ra trên diện rộng khi chỉ có khoảng 45% trong tổng số hơn 3 triệu hộ kinh doanh thực hiện đăng ký thuế chính thức. Đồng thời, quy mô kinh tế ngầm và các hoạt động phi chính thức đã gia tăng nhanh chóng, ước tính chiếm tới 51% GDP vào năm 2006 so với mức 30% của năm 1997. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu quản lý, chống thất thu ngân sách nhà nước với việc nuôi dưỡng nguồn thu, khuyến khích sản xuất kinh doanh và tạo động lực cho các hộ cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về kinh tế cá thể, tiểu chủ; phân tích toàn diện thực trạng chính sách và bộ máy quản lý thuế từ năm 1990 đến 2008; từ đó đề xuất phương hướng cùng các giải pháp cải cách đồng bộ đến năm 2015. Nghiên cứu tập trung vào không gian quản lý thuế cấp quận, huyện (Chi cục Thuế) trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt đánh giá bước chuyển tiếp quan trọng khi áp dụng Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 từ ngày 01/01/2009. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hoàn thiện thể chế tài chính công, hướng tới mục tiêu phát triển 500.000 doanh nghiệp chất lượng và bảo đảm công bằng xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Kinh tế chính trị Mác - Lênin về các hình thức kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế cá thể được định nghĩa là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và hoàn toàn sử dụng sức lao động của bản thân người kinh doanh cùng các thành viên gia đình. Kinh tế tiểu chủ cũng dựa trên quan hệ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn thêm lao động bên ngoài, tuy nhiên thu nhập chính vẫn gắn liền với công sức quản lý và vốn tự có của chủ hộ mà không mang bản chất bóc lột tư bản chủ nghĩa thuần túy.

Song song với đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết tài chính công hiện đại về bản chất và chức năng của thuế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thuế thực hiện hai chức năng cốt lõi: chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước và chức năng điều chỉnh vĩ mô, định hướng sản xuất tiêu dùng cùng điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Mô hình nghiên cứu phân định rõ hai nhóm sắc thuế: thuế trực thu (đánh trực tiếp vào thu nhập như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất từ 25% đến 28%) và thuế gián thu (cấu thành trong giá cả hàng hóa dịch vụ như thuế giá trị gia tăng). Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm: phương pháp thuế khoán doanh thu, ngưỡng doanh thu chịu thuế và chi phí tuân thủ pháp luật thuế của cơ sở kinh doanh nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của công trình được thu thập đồng bộ từ Tổng cục Thống kê thông qua các cuộc tổng điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp năm 2005 và 2006, kết hợp báo cáo tài chính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 2.913.907 cơ sở năm 2005 và 3.053.011 cơ sở năm 2006 trên phạm vi 64 tỉnh, thành phố, cùng dữ liệu vận hành thực tế tại 659 Chi cục Thuế quận, huyện trên cả nước. Việc chọn mẫu tổng thể trên diện rộng giúp phản ánh chính xác cấu trúc kinh tế và mức độ tuân thủ nghĩa vụ thuế của từng vùng miền.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các kỹ thuật thống kê mô tả, so sánh đối chiếu định lượng và mô hình hóa. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ bản chất phức tạp của mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và người dân trong thời kỳ chuyển đổi, đòi hỏi phải đặt các sắc thuế vào bối cảnh lịch sử cụ thể từ năm 1990 đến năm 2008 để nhận diện sự xung đột quyền lợi. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu so sánh quốc tế được sử dụng để đúc kết bài học từ mô hình quản lý thuế khoán và thuế thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh tại Nhật Bản, Hồng Kông và Trung Quốc, từ đó xác lập lộ trình cải cách khả thi cho Việt Nam giai đoạn 2009 - 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu vực kinh tế cá thể duy trì tỷ trọng đóng góp ổn định vào quy mô nền kinh tế nhưng chưa nhận được cơ chế thuế tương xứng. Giai đoạn 2001 - 2007, kinh tế cá thể luôn chiếm từ 29,69% đến 31,64% GDP cả nước, đạt mức 340,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2007. Lực lượng lao động trong khu vực này tăng từ 4.988.232 người năm 2005 lên 5.583.617 người năm 2006 (tăng 11,9%), trong đó số lao động thuê ngoài tăng vọt 45,9% từ 1.187.015 người lên 1.732.674 người.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế cá thể có sự lệch tầng rõ rệt giữa các ngành nghề. Nhóm ngành thương mại và dịch vụ chiếm áp đảo với 2.285.655 hộ năm 2006 (chiếm 74,86% tổng số hộ) và tạo ra 289.066 tỷ đồng doanh thu, trong khi nhóm công nghiệp và xây dựng chỉ có 767.356 hộ (chiếm 25,14%) với doanh thu 77.631 tỷ đồng. Do đại bộ phận hộ cá thể hoạt động thương mại dịch vụ chỉ hưởng chênh lệch giá mà không trực tiếp tạo ra nhiều giá trị gia tăng vật chất, mức động viên thuế thực tế vào ngân sách nhà nước vẫn ở mức thấp.

Thứ ba, hiệu quả thu ngân sách và mức độ bao quát đối tượng chịu thuế còn rất hạn chế. Khu vực kinh tế cá thể đóng góp tới 72% tổng số thu thuế môn bài của toàn ngành thuế, nhưng số thu các sắc thuế chính ngạch lại không tương xứng. Toàn quốc mới chỉ có khoảng 250.000 hộ kinh doanh quy mô lớn thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo phương pháp kê khai. Tình trạng thất thu diễn ra nghiêm trọng cả về số lượng đối tượng (hơn 50% số hộ không đăng ký thuế) lẫn doanh thu tính thuế thực tế do áp dụng phương pháp khoán tùy tiện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những bất cập trên bắt nguồn từ thói quen giao dịch bằng tiền mặt của người dân, khiến cơ quan quản lý khó kiểm soát dòng tiền và doanh thu thực tế. Việc thiếu vắng chế độ kế toán đơn giản hóa đã đẩy đa số hộ kinh doanh vào thế bị động khi thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (thuế suất 28% trước năm 2009). Cán bộ thuế tại các Đội thuế cấp cơ sở thường tự ấn định mức doanh thu khoán, làm nảy sinh cơ chế xin - cho và tạo điều kiện cho kinh tế ngầm phát triển lên mức 51% GDP.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các nền kinh tế phát triển như Nhật Bản hay Trung Quốc đều tách biệt rõ cơ chế quản lý hộ cá thể bằng cách áp dụng thuế thu nhập cá nhân có tính đến ngưỡng giảm trừ gia cảnh, thay vì xem hộ gia đình như một pháp nhân chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Các dữ liệu nghiên cứu về sự phân bổ 1.310.690 hộ thành thị (chiếm 42,9%) và 1.742.321 hộ nông thôn (chiếm 57,1%) năm 2006 có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận cơ cấu ngành kết hợp biểu đồ cột chồng đa kỳ. Mô hình trực quan này phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa địa bàn kinh doanh, quy mô vốn bình quân và khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính của hộ gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đơn giản hóa triệt để phương pháp tính thuế và xác lập ngưỡng doanh thu chịu thuế thống nhất trên toàn quốc. Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế cần ban hành quy định phân loại hộ kinh doanh theo 3 nhóm ngành chính: sản xuất, thương nghiệp và dịch vụ khác. Đối với hộ có doanh thu dưới ngưỡng, áp dụng cơ chế khoán tỷ lệ phần trăm thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân cố định theo doanh thu tự kê khai. Đối với hộ vượt ngưỡng, bắt buộc áp dụng chế độ kế toán đơn giản và nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Giải pháp này cần hoàn thành triển khai đồng bộ ngay trong năm 2009 cùng thời điểm Luật Thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực.

Thứ hai, đẩy mạnh điện tử hóa và cải cách hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí tuân thủ cho người dân. Hệ thống cơ quan thuế từ trung ương đến địa phương phải khẩn trương xây dựng phần mềm kê khai thuế trực tuyến, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 tại toàn bộ các Chi cục Thuế. Mục tiêu đến năm 2010 là giảm 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, loại bỏ việc ban hành các công văn điều chỉnh chính sách mang tính chất siêu luật, bảo đảm tính minh bạch và ổn định trong quản lý.

Thứ ba, tái cấu trúc toàn diện bộ máy ngành thuế ở cấp cơ sở gắn liền với tinh giản biên chế. Bộ Tài chính cần nghiên cứu sáp nhập 659 Chi cục Thuế quận, huyện hiện nay thành khoảng 200 Chi cục Thuế khu vực liên huyện nhằm tối ưu hóa nguồn lực công nghệ. Tại mỗi Chi cục, giải thể các Đội thuế liên phường, xã phân tán để thành lập duy nhất một Đội Kiểm tra thuế Kinh tế cá thể chuyên trách. Lộ trình thực hiện từ năm 2008 đến 2012 nhằm cơ cấu lại hơn 70% lực lượng công chức đang tập trung tại cấp huyện, nâng cao năng lực giám sát và tăng thu nhập thực tế cho cán bộ.

Thứ tư, mở rộng áp dụng chế độ hóa đơn, chứng từ và nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. Cục Thuế các tỉnh phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện ủy nhiệm thu đối với các hộ kinh doanh ổn định, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền theo nguyên tắc quản lý tương tác hai bên cùng thắng (win - win). Mục tiêu đến năm 2012 nâng tỷ lệ hộ kinh doanh có đăng ký mã số thuế từ 45% lên trên 85%, góp phần đưa khu vực kinh tế cá thể hội nhập lành mạnh vào thị trường chính thức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Quốc hội, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế. Tài liệu cung cấp căn cứ thực tiễn vững chắc và chuỗi số liệu toàn diện về hơn 3 triệu hộ kinh doanh để hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Quản lý thuế, từ đó thiết kế chính sách thuế khoán công bằng và chống thất thu ngân sách.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý thuế tại các Cục Thuế, Chi cục Thuế quận, huyện. Luận văn là cẩm nang phân tích nghiệp vụ giá trị, hỗ trợ trực tiếp cho các đề án sáp nhập tổ chức bộ máy, chuyển đổi mô hình từ Đội thuế phường xã sang Đội Kiểm tra chuyên trách, cũng như ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hộ cá thể.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về sự vận động của quan hệ sản xuất, sở hữu tư nhân nhỏ và tác động của công cụ tài khóa đối với thành phần kinh tế tư nhân thời kỳ đổi mới.

Thứ tư, các chuyên gia tư vấn pháp lý, đại lý thuế, hiệp hội ngành nghề và chủ hộ kinh doanh quy mô lớn. Nhóm đối tượng này có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu để định hướng lộ trình chuẩn hóa chế độ sổ sách kế toán, tối ưu hóa nghĩa vụ thuế hợp pháp và chuẩn bị các điều kiện pháp lý cần thiết để chuyển đổi mô hình từ hộ kinh doanh cá thể lên doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.

Câu hỏi thường gặp

Kinh tế cá thể và kinh tế tiểu chủ có sự khác biệt bản chất nào theo quan điểm kinh tế chính trị? Kinh tế cá thể dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và hoàn toàn sử dụng sức lao động của gia đình. Trong khi đó, kinh tế tiểu chủ có thuê mướn lao động bên ngoài (năm 2006 có 1,73 triệu lao động thuê ngoài), nhưng thu nhập chính vẫn phụ thuộc vào vốn và sức lao động của chủ hộ, không mang tính bóc lột tư bản.

Vì sao chính sách thuế trước năm 2009 bị đánh giá là chưa phù hợp với hộ kinh doanh cá thể? Trước năm 2009, hộ cá thể bị áp dụng Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất 28% và quy trình khấu trừ thuế giá trị gia tăng phức tạp. Phần lớn trong số 3,05 triệu hộ không có đủ năng lực kế toán để tự kê khai, dẫn đến tình trạng áp thuế khoán tùy tiện và thất thu trên 50% số đối tượng.

Điểm đổi mới mang tính bước ngoặt của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 đối với hộ cá thể là gì? Từ ngày 01/01/2009, cá nhân và hộ kinh doanh được chuyển từ diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sang nộp thuế thu nhập cá nhân. Sự thay đổi này tạo ra sự bình đẳng trong điều tiết thu nhập giữa mọi công dân và cho phép tính toán các khoản giảm trừ gia cảnh phù hợp với quy mô gia đình.

Đề xuất tái cấu trúc 659 Chi cục Thuế thành 200 Chi cục vùng mang lại lợi ích gì? Mô hình sáp nhập giúp tập trung nguồn lực công nghệ thông tin, giảm đầu mối quản lý trung gian, tinh giản biên chế tại cấp cơ sở nơi chiếm hơn 70% nhân lực toàn ngành thuế. Đồng thời, việc xóa bỏ các đội thuế phường xã giúp xóa bỏ cơ chế xin - cho và chuyên môn hóa khâu kiểm tra.

Làm thế nào để hạn chế tình trạng kinh tế ngầm chiếm tới 51% GDP trong khu vực cá thể? Nhà nước cần luật hóa tiêu chí phân loại hộ cá thể, đơn giản hóa thủ tục kê khai thuế theo tỷ lệ doanh thu, áp dụng tiêu chuẩn ISO 9001:2000, điện tử hóa khâu nộp thuế và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt nhằm công khai, minh bạch hóa toàn bộ doanh thu kinh doanh.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ vị trí của kinh tế cá thể, tiểu chủ khi đóng góp 29,78% GDP và tạo việc làm cho 5,58 triệu lao động năm 2006.
  • Chỉ ra những hạn chế cố hữu của chính sách thuế cũ khi chỉ có 45% hộ đăng ký thuế và quy mô kinh tế ngầm lên tới 51% GDP.
  • Khẳng định tính tất yếu của bước chuyển đổi sang Luật Thuế thu nhập cá nhân từ ngày 01/01/2009 để bảo đảm công bằng tài khóa.
  • Đề xuất mô hình cải cách bộ máy mang tính đột phá: sáp nhập 659 Chi cục Thuế thành 200 Chi cục vùng liên huyện đến năm 2012.
  • Thiết lập khung phương pháp tính thuế khoán đơn giản theo 3 nhóm ngành kết hợp mở rộng chế độ kế toán cho 250.000 hộ kinh doanh lớn.

Đóng góp cốt lõi của công trình là hệ thống hóa khung lý luận kinh tế chính trị chuyên sâu, cung cấp bằng chứng thực nghiệm vững chắc để đổi mới toàn diện chính sách thuế đối với kinh tế cá thể. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi ngành Thuế phải khẩn trương hoàn thiện các thông tư hướng dẫn, đẩy mạnh hạ tầng tin học hóa và triển khai đào tạo lại đội ngũ công chức trước năm 2010. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và chủ cơ sở kinh doanh hãy khai thác triệt để những giá trị học thuật và thực tiễn của công trình này để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững và minh bạch.