phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quỹ Đầu tƣ phát triển tỉnh Tiền Giang. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quỹ Đầu tƣ phát triển tỉnh Tiền Giang. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO BẢO LÃNH TÍN DỤNG CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI QUỸ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƢƠNG 1.1 Khái quát về Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.1 Khái niệm về quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.1 Khái niệm về quỹ đầu tƣ Trong các tài liệu khác nhau cũng nhƣ trong các văn bản pháp lý của các nƣớc có Quỹ Đầu tƣ, ngƣời ta đƣa ra nhiều cách định nghĩa về Quỹ Đầu tƣ với khái niệm rộng, hẹp khác nhau nhƣ sau: Các Quỹ Đầu tƣ tại Mỹ đƣợc định nghĩa là các tổ chức tài chính phi ngân hàng thu nhận tiền từ một số lƣợng lớn các nhà đầu tƣ và tiến hành đầu tƣ từ số vốn đó vào các tài sản tài chính có tính thanh khoản dƣới dạng tiền tệ và các công cụ của thị trƣờng tài chính.
Các Quỹ Đầu tƣ tại Anh đƣợc coi là một hình thái về tài sản hoặc bất kỳ loại nào với mục đích là cho phép những ngƣời tham gia vào các hình thái đó thu lợi nhuận phát sinh từ việc mua, giữ, quản lý hoặc xử lý các tài sản thuộc đối tƣợng đầu tƣ của Quỹ. Các Quỹ Đầu tƣ tại Nhật Bản đƣợc coi là một sản phẩm hình thành nhằm đầu tƣ số tiền tập hợp đƣợc từ một số lớn các nhà đầu tƣ vào chứng khoán (cổ phiếu và trái phiếu), tập trung dƣới sự quản lý của những ngƣời không phải là ngƣời đầu tƣ và phân phối lợi nhuận thu đƣợc từ các khoản đầu tƣ cho các nhà đầu tƣ theo tỷ lệ vốn mà họ đóng góp vào Quỹ. Từ các định nghĩa trên, trong luận văn này "Quỹ đầu tƣ" đƣợc hiểu nhƣ sau: “Quỹ Đầu tƣ là tổ chức tài chính phi ngân hàng đƣợc hình thành để đầu tƣ vào danh mục các tài sản hoặc công cụ trên thị trƣờng tài chính nhằm đa dạng hoá lĩnh vực đầu tƣ và phân tán rủi ro từ nguồn vốn đóng góp của các nhà đầu tƣ ”.2 Khái niệm về Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng Quỹ ĐTPT địa phƣơng là một định chế tài chính của địa phƣơng nhằm ĐTPT hạ tầng kỹ thuật. 6 Quỹ ĐTPT địa phƣơng là tiền đề cho việc chuyển hoá một phần hoạt động đầu tƣ của Nhà nƣớc sang cho toàn xã hội nhằm thực hiện chủ trƣơng “Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm”.
Nhà nƣớc chỉ tập trung đầu tƣ vào các dự án, chƣơng trình quan trọng, những dự án không có khả năng thu hồi vốn, hoặc những dự án phục vụ lợi ích cộng đồng. Đối với các dự án, chƣơng trình gắn liền với KT - XH theo địa bàn và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thì việc đầu tƣ sẽ đƣợc xã hội hoá thông qua các kênh khác nhau, trong đó có kênh Quỹ ĐTPT địa phƣơng. Quỹ ĐTPT địa phƣơng là công cụ tài chính để huy động các nguồn lực tài chính, phục vụ cho mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo chiến lƣợc phát triển KT - XH đã đƣợc Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc tỉnh phê chuẩn. Vốn của Quỹ ĐTPT địa phƣơng là nguồn vốn "mồi" để huy động các nguồn vốn khác từ mọi thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên động lực mới để thu hút các nguồn lực tài chính trên địa bàn cùng tham gia đầu tƣ.
Hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phƣơng bổ trợ cho các kênh đầu tƣ khác hiện có và tạo nên một mạng lƣới đầu tƣ hoàn chỉnh trên địa bàn các tỉnh, thành phố, hình thành thêm một định chế trung gian tài chính mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trƣờng vốn trong nƣớc. Như vậy Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính Nhà nước của địa phương; thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán ri ng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (Nghị định số 138/2007/NĐ-CP).2 Đặc điểm của Quỹ Đầu tƣ phát triển địa phƣơng Về mục tiêu hoạt động: Quỹ ĐTPT địa phƣơng hoạt động với nhiều chức năng đan xen nhau nhƣ cho vay đầu tƣ, đầu tƣ vào các công cụ trên thị trƣờng tài chính, cung cấp dịch vụ quản lý vốn ủy thác, tƣ vấn tài chính, tƣ vấn đầu tƣ,. Mục tiêu hoạt động của Quỹ ĐTPT địa phƣơng vừa thực hiện các chiến lƣợc phát triển KT – XH của các địa phƣơng, vừa thực hiện mục tiêu gia tăng giá trị vốn cho chủ sở hữu và giảm tính chất bao cấp trong hoạt động của Quỹ ĐTPT. Tuy nhiên, 7 hoạt động đầu tƣ của Quỹ ĐTPT địa phƣơng đƣợc thực hiện theo danh mục đầu tƣ với các giới hạn về đầu tƣ trực tiếp, đầu tƣ gián tiếp,.
đƣợc quy định trong điều lệ của các Quỹ ĐTPT địa phƣơng đƣợc đại diện chủ sở hữu phê duyệt. Về mô hình tổ chức quản lý: Quỹ ĐTPT địa phƣơng đƣợc tổ chức theo mô hình độc lập tự quản lý, với cơ cấu đầy đủ nhƣ một doanh nghiệp. Mô hình tổ chức này đƣợc xây dựng trên cơ sở tính chất sở hữu của Quỹ ĐTPT, cơ chế kiểm soát và phân cấp trong quản lý các hoạt động đầu tƣ của Quỹ ĐTPT. Về hình thức sở hữu: Quỹ ĐTPT địa phƣơng là loại định chế tài chính do Nhà nƣớc (chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) sở hữu 100% vốn.
Vì vậy, việc huy động nguồn vốn ban đầu để hình thành Quỹ do NSĐP đảm bảo. Về nguồn vốn hoạt động: Vốn chủ sở hữu: vốn điều lệ; tiền đóng góp tự nguyện, các khoản viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc. Vốn huy động: Quỹ ĐTPT địa phƣơng đƣợc huy động các nguồn vốn trung và dài hạn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nƣớc, chủ yếu dƣới hình thức phát hành trái phiếu Quỹ ĐTPT địa phƣơng theo quy định của pháp luật, vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nƣớc (WB, AFD,…). Về sử dụng vốn: Thực hiện đầu tƣ trực tiếp vào các dự án, cho vay đầu tƣ, góp vốn thành lập doanh nghiệp, BLTD cho DNNVV, ứng vốn phát triển quỹ đất, nhận ủy thác và ủy thác… 1.2 Bảo lãnh tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Quỹ đầu tƣ phát triển địa phƣơng 1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm Hiện nay không có một định nghĩa mang tính phổ quát cho tất cả các DNNVV trên thế giới mà phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia.
Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ thì DNNVV là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, đƣợc phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.2 Tiêu chuẩn doanh nghiệp nhỏ và vừa Các nƣớc, tổ chức trên thế giới thƣờng xác định DNNVV dựa vào quy mô (số ngƣời lao động, doanh thu, lợi nhuận và giá trị tài sản). Tùy theo mục đích nghiên cứu, mỗi quốc gia có thể có tiêu chí để phân loại doanh nghiệp DNNVV khác nhau và số lao động tối đa của một doanh nghiệp vừa và nhỏ giao động trong khoảng 50-300 (Taylor và Adair, 1994; Gibson và Vaart, 2008). Hiệp hội Châu Âu cho rằng DNNVV sử dụng ít hơn 250 ngàn ngƣời hoặc có doanh thu không quá 43 triệu EUR (Taylor và Adair, 1994). Theo World Bank, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, doanh nghiệp nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Tại Việt Nam, theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm, nhƣng tổng nguồn vốn là tiêu chí ƣu tiên. Cụ thể nhƣ sau: Bảng 2.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa DN siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Ngành Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động vốn vốn I. Nông, 10 ngƣời 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên lâm nghiệp trở xuống xuống ngƣời đến đồng đến 100 200 ngƣời và thủy sản 200 ngƣời tỷ đồng đến 300 ngƣời II. Công 10 ngƣời 20 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên nghiệp và trở xuống xuống ngƣời đến đồng đến 200 ngƣời xây dựng 200 ngƣời 100 tỷ đồng đến 300 III.
Thƣơng 10 ngƣời 10 tỷ đồng trở từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 ngƣời mại và dịch trở xuống xuống ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến vụ 50 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP 9 1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ngoài những đặc trƣng vốn có của một doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, DNVVN còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động nhƣ sau: - Thứ nhất, DNVVN có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ, do vốn chủ sở hữu ít, tích lũy vốn từ lợi nhuận không nhiều Với lƣợng vốn đầu tƣ giới hạn và số lƣợng lao động tối đa là 300 ngƣời thì quy mô của doanh nghiệp là tƣơng đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho DNVVN nhƣ khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trƣờng, khả năng thu hồi vốn nhanh. Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển trong nhiều ngành nghề, trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các doanh nghiệp lớn để lại. Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNVVN bị hạn chế trong đầu tƣ vào mặt bằng, nhà xƣởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất.
Hơn nữa, quy mô nhỏ và thông tin thƣờng chƣa minh bạch khiến cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tƣ để huy động vốn.