Tổng quan luận án

Thông tin tổng quan Nội dung chi tiết
Đề tài luận án Những cách tân về nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 đến nay (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy)
Tác giả Nguyễn Thanh Hồng
Người hướng dẫn khoa học PGS. Hà Văn Đức
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành & Mã số Văn học Việt Nam — Mã số: 62 22 34 01
Năm bảo vệ 2017
Loại hình & Hướng tiếp cận Luận án Tiến sĩ Văn học; hướng tiếp cận định tính, kết hợp thi pháp học thể loại, văn học sử và so sánh văn học

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau năm 1986, văn học Việt Nam chứng kiến sự chuyển dịch từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư, thế sự; từ xu hướng ngợi ca sang cái nhìn phê phán hiện thực; từ thói quen tiếp cận đời sống ở khía cạnh lạc quan sang việc khai thác trực diện những tồn đọng xã hội và khát vọng cá nhân. Truyện ngắn, với đặc trưng ngắn gọn và cơ động, đã phản ánh nhanh nhạy các chuyển động này. Đồng thời, văn học thời kỳ đổi mới ghi nhận sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ, tạo thành một dòng văn học mang "tính nữ" với sự sắc sảo, đằm thắm và tinh tế trong việc tiếp cận các bi kịch nhân sinh.

Tuy nhiên, dù đã có các công trình nghiên cứu về truyện ngắn thời kỳ đổi mới hoặc nghiên cứu chân dung từng tác giả riêng lẻ, việc đặt sáng tác của ba cây bút nữ tiêu biểu cho ba vùng không gian văn hóa khác nhau (Nguyễn Thị Thu Huệ ở đô thị miền Bắc, Nguyễn Ngọc Tư ở vùng đất Nam Bộ, Đỗ Bích Thúy ở miền núi phía Bắc) vào một hệ thống khảo sát toàn diện về các bình diện cách tân nghệ thuật (quan niệm nghệ thuật về con người, xây dựng nhân vật, tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu) vẫn là một khoảng trống cần được tổng kết có hệ thống.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Khái quát những cách tân nghệ thuật tiêu biểu trong truyện ngắn của ba tác giả Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy; qua đó nhận diện diện mạo truyện ngắn của các nhà văn nữ nói riêng và truyện ngắn Việt Nam giai đoạn từ năm 1986 đến nay trong tiến trình vận động, đổi mới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khảo sát, nghiên cứu và tổng kết những cách tân về quan niệm nghệ thuật về con người và sự cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật.
    2. Khảo sát, phân tích những cách tân nghệ thuật trên phương diện xây dựng tình huống và kết cấu truyện ngắn.
    3. Khảo sát, đánh giá những cách tân về mặt ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong sáng tác của ba tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy (biểu hiện qua quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật xây dựng nhân vật, tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật) cùng các tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của họ.
  • Phạm vi tư liệu:
    • Nguyễn Thị Thu Huệ: Tập truyện Hậu thiên đường (1994), Cát đợi, Phù thủy, Nào, ta cùng lãng quên, Thành phố đi vắng (2012) cùng các truyện ngắn tiêu biểu (Mùa đông ấm áp, Với tay là đến, Đêm dịu dàng...).
    • Nguyễn Ngọc Tư: Các tập Ngọn đèn không tắt (2000), Ông ngoại (2001), Giao thừa (2003), Biển người mênh mông (2003), Nước chảy mây trôi, Cánh đồng bất tận (2005), Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005) cùng các truyện ngắn tiêu biểu (Ngày mai của những ngày mai, Một mối tình, Sầu trên đỉnh Puvan, Nỗi buồn rất lạ, Cỏ xanh, Làm mẹ, Duyên phận éo le, Của ngày đã mất...).
    • Đỗ Bích Thúy: Các tập Sau những mùa trăng (2000), Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Người đàn bà miền núi cùng các truyện ngắn (Gió không ngừng thổi, Bóng của cây sồi, Hẻm núi, Cái ngưỡng cửa cao, Cột đá treo người, Giống như cái cối nước, Như một con chim nhỏ, Sương khói mịt mờ, Mẹ kế...).
    • Phạm vi thời gian và không gian: Tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ mốc Đổi mới năm 1986 đến thời điểm thực hiện luận án (2017). Các thể loại khác như tiểu thuyết, tản văn của các tác giả được sử dụng với tư cách tư liệu tham khảo.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn thể loại

Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo các nhóm vấn đề:

  1. Nghiên cứu lý thuyết về truyện ngắn: Các quan niệm của Paul Bourget, Nguyễn Kiên, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Ngọc; các công trình từ điển và chuyên khảo như Từ điển văn học (NXB Khoa học Xã hội, 1984), Từ điển văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học (Nguyễn Lai), Những vấn đề của thi pháp truyện (Nguyễn Thái Hòa), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí (Tạ Duy Anh chủ biên), Sổ tay truyện ngắn (Vương Trí Nhàn), Truyện ngắn – những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại (Bùi Việt Thắng), Truyện ngắn: lý luận tác gia và tác phẩm (Lê Huy Bắc), Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử - Thi pháp – Chân dung (Phan Cự Đệ chủ biên, 2007).
  2. Xu hướng cách tân của truyện ngắn Việt Nam sau 1986: Quan niệm về "cách tân" của Robert L. McLaughlin; các đánh giá về sự xuất hiện của yếu tố hậu hiện đại, xu thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn qua nhận định của Bùi Việt Thắng, Bích Thu, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Văn Long; các luận án tiến sĩ chuyên ngành như Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 – nhìn từ góc độ thể loại (Lê Thị Hương Thủy, 2013) và Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại (Nguyễn Thị Năm Hoàng, 2015).
  3. Nghiên cứu về truyện ngắn của các tác giả nữ sau 1986: Đánh giá về "tính nữ", "nữ khuynh" của Phương Lựu, Lý Hoài Thu, Đặng Anh Đào, Phạm Xuân Nguyên, Vũ Tuấn Anh; luận án Truyện ngắn các nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại (Phạm Thị Thanh Phượng); tọa đàm Phụ nữ và sáng tác văn chương (Tạp chí Văn học, 1996) với ý kiến của Văn Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân; tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại (Viện Văn học, 2012); các tuyển tập do Bùi Việt Thắng biên soạn (Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Mùa thu vàng rực rỡ, Có một thời yêu).
  4. Nghiên cứu về ba tác giả cụ thể:
    • Nguyễn Thị Thu Huệ: Nhận định của Nguyễn Văn Lưu, Đoàn Hương (1996), Lý Hoài Thu, Hồ Phương, Kim Dung, Bùi Việt Thắng (1994, 2002), Nguyễn Việt Hòa (2003), Phạm Hoa, Mộc Nguyên (2013), Dương Thị Thùy Chi (2013), luận văn thạc sĩ của Lưu Thị Mai Hoa.
    • Nguyễn Ngọc Tư: Ý kiến của Huỳnh Kim, Chu Lai, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang Sáng (lời tựa tập Ngọn đèn không tắt), Huỳnh Công Tín, Hoàng Thiên Nga, Hữu Thỉnh, Trần Hữu Dũng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Bình, Đỗ Hồng Ngọc, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Lệ.
    • Đỗ Bích Thúy: Các bài viết ghi nhận thế mạnh viết về đề tài miền núi, phong tục và thân phận người phụ nữ vùng cao.
Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung chính đã đạt được
Lý thuyết thể loại Phan Cự Đệ, Bùi Việt Thắng, Lê Huy Bắc, Nguyễn Thái Hòa Định vị đặc trưng thể loại truyện ngắn, thi pháp thể loại và lịch sử phát triển
Tiến trình truyện ngắn sau 1986 Bích Thu, Lê Thị Hương Thủy, Nguyễn Thị Năm Hoàng Nhận diện xu hướng tiểu thuyết hóa, yếu tố hậu hiện đại, sự đổi mới trần thuật
Hiện tượng văn xuôi nữ Phương Lựu, Bùi Việt Thắng, Phạm Thị Thanh Phượng Khẳng định dấu ấn "tính nữ", sự chiếm ưu thế của các cây bút nữ trên văn đàn
Chân dung 3 tác giả Bùi Việt Thắng, Lý Hoài Thu, Trần Hữu Dũng, Dạ Ngân Đánh giá phong cách riêng: Thu Huệ (phố thị), Ngọc Tư (Nam Bộ), Bích Thúy (Tây Bắc)

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn khảo sát truyện ngắn nữ trên diện rộng nhằm khái quát tư duy nghệ thuật chung, hoặc đi sâu phân tích từng tác giả ở các bài viết phê bình, luận văn đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: đối chiếu, tổng hợp và phân tích có hệ thống những điểm tương đồng và khác biệt về phương diện thi pháp (từ quan niệm con người, nghệ thuật nhân vật đến tình huống, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu) của ba tác giả đại diện cho ba không gian văn hóa tiêu biểu, từ đó làm rõ diện mạo cách tân nghệ thuật của truyện ngắn nữ giai đoạn 1986 đến nay.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm truyện ngắn và thi pháp thể loại: Tiếp thu quan niệm từ thi pháp học của M. Bakhtin, M. Gorki, G. N. Pospelov và các nhà nghiên cứu Việt Nam (Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Bùi Việt Thắng), xem truyện ngắn là thể loại tự sự tập trung thể hiện một lát cắt hiện thực, một khoảnh khắc nhân sinh, với tính chất cô đọng của tình tiết và sự đa tầng của hình tượng.
  • Khái niệm cách tân nghệ thuật: Dựa trên quan niệm của Robert L. McLaughlin và các nhà lý luận trong nước, luận án khu biệt "cách tân" chủ yếu nằm ở bình diện hình thức nghệ thuật và phương thức tổ chức tự sự (mở rộng quan niệm về cách viết, cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, khai thác ngôn ngữ và giọng điệu).
  • Quan niệm nghệ thuật về con người: Khung phân tích xem quan niệm về con người là hạt nhân chi phối toàn bộ hệ thống thi pháp xây dựng nhân vật, phương thức trần thuật và hệ thống tình huống.
  • Lý thuyết về tính nữ và không gian văn hóa: Sử dụng góc nhìn giới và không gian văn hóa để phân tích tính khu biệt trong sáng tác của từng cây bút.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án phối hợp thực hiện 6 phương pháp nghiên cứu định tính và thao tác chuyên ngành văn học:

  1. Phương pháp loại hình: Nhận diện những đặc trưng thi pháp của thể loại truyện ngắn và tìm ra nét khu biệt trong loại hình sáng tác của từng tác giả nữ.
  2. Phương pháp hệ thống: Đặt các yếu tố quan niệm con người, nhân vật, tình huống, kết cấu, trần thuật thành các tiểu hệ thống nằm trong chỉnh thể sáng tác của từng tác giả, đồng thời đặt trong hệ thống chung của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.
  3. Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Đặt tác phẩm của ba nhà văn vào bối cảnh lịch sử - xã hội sau năm 1986 để đánh giá sự vận động của tư duy nghệ thuật theo tiến trình thời gian.
  4. Phương pháp so sánh: Đối chiếu sáng tác giữa các giai đoạn của từng tác giả; so sánh giữa ba tác giả với nhau và so sánh với các cây bút cùng thời để làm nổi bật nét riêng của mỗi người.
  5. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích cấu trúc văn bản, hình tượng, ngôn từ trong từng truyện ngắn cụ thể, sau đó tổng hợp khái quát thành các luận điểm lý luận.
  6. Phương pháp phân loại, thống kê: Thống kê, phân loại các kiểu nhân vật, mô hình kết cấu, dạng thức tình huống và lớp từ vựng trong các truyện ngắn được khảo sát để làm căn cứ thực chứng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu khảo sát trực tiếp là toàn bộ các tập truyện ngắn đã xuất bản của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy từ năm 1986 đến 2017. Nguồn tư liệu bổ trợ gồm các công trình lý luận phê bình, kỷ yếu tọa đàm khoa học, luận án tiến sĩ và các bài viết nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Văn học, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ...).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 khái quát bối cảnh lý thuyết và thực tiễn vận động của truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 1986:

  • Sự phát triển của lý thuyết truyện ngắn: Phân tích các quan điểm lý luận về ranh giới giữa truyện ngắn và tiểu thuyết (tính chất độc tấu so với giao hưởng theo cách nói của Paul Bourget; việc tập trung vào tình huống, chi tiết theo Nguyễn Kiên, Nguyễn Công Hoan; dung lượng nén chặt theo Nguyên Ngọc).
  • Hai xu hướng cách tân nổi bật sau 1986:
    • Yếu tố hậu hiện đại: Thể hiện qua sự phân mảnh, đứt gãy điểm nhìn, cấu trúc lắp ghép, tính chất đa thanh và việc tạo lập cuộc đối thoại ngầm giữa người kể chuyện và bạn đọc.
    • Xu thế tiểu thuyết hóa truyện ngắn: Mở rộng biên độ phản ánh, gia tăng dung lượng, lồng ghép nhiều chủ đề và mở ra nhiều tuyến nhân vật phức tạp (tiêu biểu như các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư).
  • Diện mạo văn xuôi nữ: Thập niên 90 của thế kỷ XX ghi nhận sự xuất hiện của các thế hệ tác giả nữ với sự gia tăng về số lượng và chất lượng giải thưởng văn học. Luận án điểm lại các tọa đàm năm 1996 và 2012, khẳng định sự chuyển hướng sang đề tài thế sự đời tư, số phận người phụ nữ bằng lối viết đằm thắm, trắc ẩn.
  • Lịch sử nghiên cứu ba tác giả: Tổng hợp chi tiết các chặng đường nghiên cứu về phong cách sắc sảo, lạnh lùng của Nguyễn Thị Thu Huệ; chất giọng Nam Bộ mộc mạc, nhân ái của Nguyễn Ngọc Tư; và không gian miền núi đậm chất phong tục của Đỗ Bích Thúy.

Chương 2: Từ sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người… đến những cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật

Chương này phân tích sự dịch chuyển từ cái nhìn con người sử thi, cộng đồng sang con người cá nhân, đa diện thông qua ba mô hình hình tượng:

Quan niệm nghệ thuật về con người
  • Hình tượng con người đẹp, thuần hậu, chí tình chí nghĩa:
    • Đỗ Bích Thúy khắc họa vẻ đẹp của người phụ nữ vùng cao với đức hy sinh, lòng vị tha bền bỉ (Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Gió không ngừng thổi, Bóng của cây sồi, Hẻm núi).
    • Nguyễn Ngọc Tư tập trung vào những con người Nam Bộ hành xử chí tình, chí nghĩa theo tinh thần Lục Vân Tiên, sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm của người khác (Một mối tình, Sầu trên đỉnh Puvan, Cánh đồng bất tận, Nỗi buồn rất lạ, Cỏ xanh, Làm mẹ).
  • Hình tượng con người tha hóa:
    • Tha hóa có khả năng thức tỉnh: Nhân vật nhận thức được sự trượt dốc nhưng bế tắc trước hoàn cảnh (cô gái trong Ngày mai của những ngày mai, Hoa trong Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, Sương trong Cái ngưỡng cửa cao, Dương trong Với tay là đến).
    • Tha hóa không có khả năng thức tỉnh: Nhân vật bị bản năng và hận thù chi phối, mất đi nhân tính (hình tượng người cha trả thù đời trong Cánh đồng bất tận).
  • Hình tượng con người bi kịch:
    • Bi kịch tình yêu và hôn nhân: Nỗi cô đơn, sự đổ vỡ niềm tin của người phụ nữ hiện đại trong truyện Nguyễn Thị Thu Huệ (Cát đợi, Đêm dịu dàng).
    • Bi kịch do hoàn cảnh và hủ tục, định kiến: Phụ nữ vùng cao bị trói buộc bởi chế độ phụ quyền, hủ tục dòng họ trong truyện Đỗ Bích Thúy (Cột đá treo người, Giống như cái cối nước, Bóng của cây sồi, Như một con chim nhỏ).
    • Bi kịch đời thường, éo le thân phận: Nỗi đau thầm lặng của người mẹ mất con, thân phận cô gái tiếp viên trong truyện Nguyễn Ngọc Tư (Bà cô, Duyên phận éo le).
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Ngoại hình và hành động: Giảm thiểu lối tả chi tiết tỉ mỉ truyền thống, chuyển sang bút pháp chấm phá, gián tiếp qua điểm nhìn của nhân vật khác (Biển người mênh mông, Sương khói mịt mờ, Của ngày đã mất). Hiện tượng tối giản hóa tên gọi (dùng danh xưng "người đàn ông", "người đàn bà", "y tá", "má tôi", "dì Sáu").
    • Nội tâm và các thủ pháp khác: Đào sâu dòng tâm trạng, độc thoại nội tâm song hành và biểu hiện các trạng thái vô thức, tiềm thức.

Chương 3: Những cách tân trong nghệ thuật xây dựng tình huống và kết cấu truyện

Chương 3 khảo sát phương thức tổ chức cốt truyện và các dạng thức cấu trúc:

  • Nghệ thuật xây dựng tình huống:
    • Sự chuyển đổi từ tình huống hành động/xung đột xã hội sang các kiểu tình huống thế sự, tình huống tâm trạng và tình huống nhận thức.
    • Tình huống trong truyện Nguyễn Thị Thu Huệ thường đặt nhân vật vào ranh giới thử thách của hôn nhân và sự phản bội; Nguyễn Ngọc Tư khai thác tình huống éo le, ngẫu nhiên của phận người trôi dạt; Đỗ Bích Thúy khai thác tình huống va đập giữa khát vọng cá nhân và rào cản tập tục miền núi.
  • Những đổi mới trong kết cấu:
    • Kết cấu lồng ghép (truyện lồng trong truyện): Phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính, tạo ra nhiều tầng nghĩa.
    • Kết cấu phân mảnh, chắp ghép: Chịu ảnh hưởng của kỹ thuật điện ảnh và tư duy hậu hiện đại, tăng tính đa nghĩa cho văn bản.
    • Kết cấu theo dòng tâm trạng và kết cấu mở: Không khép lại bằng một kết thúc trọn vẹn mà gợi mở suy ngẫm cho người đọc.
    • Các thành tố bổ trợ: Khai thác chi tiết nghệ thuật mang tính biểu tượng, không gian biểu cảm và thời gian tâm lý để nâng đỡ kết cấu truyện.

Chương 4: Những cách tân trên phương diện ngôn ngữ và giọng điệu

Chương 4 phân tích các đặc trưng phong cách ngôn ngữ và sự đa dạng hóa âm hưởng trần thuật:

  • Cá tính hóa ngôn ngữ theo không gian văn hóa:
    • Nguyễn Ngọc Tư: Sử dụng đậm đặc phương ngữ Nam Bộ, hệ thống từ ngữ tự nhiên, mộc mạc, đậm chất khẩu ngữ miệt vườn nhưng giàu tính tu từ.
    • Nguyễn Thị Thu Huệ: Ngôn ngữ trần thuật sắc sảo, dồn nén, câu văn ngắn gọn mang nhịp sống đô thị hiện đại, lời đối thoại chân thực, giàu tính tự vấn.
    • Đỗ Bích Thúy: Khai thác lớp từ ngữ, hình ảnh biểu đạt không gian văn hóa miền núi Tây Bắc, lối nói giàu hình ảnh so sánh cụ thể của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các sắc thái giọng điệu tiêu biểu:
    • Giọng ngậm ngùi, xót xa, thương cảm: Giọng điệu chủ đạo khi viết về những kiếp người bất hạnh, thiệt thòi, phụ nữ và trẻ em.
    • Giọng hài hước, châm biếm, mỉa mai: Xuất hiện rõ nét trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ khi vạch trần thói giả tạo, ích kỷ của con người trong xã hội hiện đại.
    • Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm: Tạo độ lắng sâu triết lý về kiếp nhân sinh, tình nghĩa và quy luật đời sống.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ diện mạo thi pháp truyện ngắn Việt Nam thời kỳ sau năm 1986 thông qua việc phân tích chuyên sâu ba trường hợp tác giả tiêu biểu.
  • Làm rõ mối quan hệ tương tác giữa tư duy nghệ thuật "tính nữ" với các xu hướng vận động chung của thể loại truyện ngắn (tiểu thuyết hóa, tiếp thu kỹ thuật tự sự hiện đại và hậu hiện đại).
  • Xác lập khung mô tả hệ thống về các bình diện cách tân: từ quan niệm nghệ thuật về con người đến sự biến đổi trong nghệ thuật nhân vật, tình huống, kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá khách quan, toàn diện vị trí và đóng góp của Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đương đại:
    • Nguyễn Thị Thu Huệ đại diện cho sự đổi mới của văn xuôi đô thị miền Bắc với giọng văn sắc sảo, trần trụi và chiều sâu tâm lý.
    • Nguyễn Ngọc Tư đại diện cho văn xuôi Nam Bộ với lối viết dung dị, thấm đượm tình nghĩa và ngôn ngữ bản địa.
    • Đỗ Bích Thúy khẳng định dấu ấn ở mảng đề tài miền núi và người phụ nữ dân tộc thiểu số qua cái nhìn phong tục và sự cảm thông sâu sắc.
  • Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng và kết quả phân tích phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy học phần Văn học Việt Nam hiện đại và Thi pháp học thể loại ở bậc đại học, sau đại học.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất việc tiếp tục vận dụng lý thuyết thi pháp học và lý thuyết tự sự học để khảo sát các hiện tượng văn xuôi nữ đương đại.
  • Khuyến nghị mở rộng đưa các tác phẩm truyện ngắn tiêu biểu của các tác giả nữ thời kỳ đổi mới vào chương trình giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông và đại học nhằm phản ánh đúng diện mạo văn học dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Giới hạn thể loại: Luận án tập trung khảo sát thể loại truyện ngắn, các thể loại khác của ba tác giả như tiểu thuyết, tản văn, truyện thiếu nhi chỉ được đề cập ở mức độ tư liệu so sánh, bổ trợ.
  • Giới hạn mẫu khảo sát: Nghiên cứu khu biệt trong phạm vi sáng tác của ba tác giả (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy), chưa bao quát toàn bộ đội ngũ nhà văn nữ thời kỳ đổi mới (như Lê Minh Khuê, Y Ban, Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Phan Thị Vàng Anh).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu sáng tác truyện ngắn với các thể loại tiểu thuyết và tản văn của chính ba tác giả để có cái nhìn toàn diện về phong cách nghệ thuật của từng cá nhân.
  • Vận dụng lý thuyết phê bình nữ quyền (Feminist Criticism) và lý thuyết không gian văn hóa để tiếp tục đào sâu các tầng nghĩa biểu tượng trong văn xuôi nữ Việt Nam đương đại.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Nguồn tài liệu chuyên khảo về thi pháp truyện ngắn và văn học Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay.
  • Giảng viên, giáo viên dạy văn: Phục vụ thiết kế bài giảng về văn xuôi đương đại, chuyên đề tác gia văn học nữ và phân tích tác phẩm tự sự.
  • Các nhà phê bình văn học: Cung cấp cơ sở dữ liệu và hệ thống nhận định về sự chuyển biến của tư duy nghệ thuật thời kỳ đổi mới.

Các nội dung đáng tham khảo

  • Phần tổng quan tư liệu tại Chương 1 cung cấp danh mục công trình và lịch sử nghiên cứu về ba tác giả.
  • Khung phân loại ba mô hình hình tượng con người (con người đẹp/chí tình, con người tha hóa, con người bi kịch) tại Chương 2.
  • Phân tích các thủ pháp xây dựng kết cấu phân mảnh, kết cấu lồng ghép tại Chương 3.
  • Các khảo sát về việc sử dụng phương ngữ Nam Bộ và ngôn ngữ văn hóa miền núi tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án lựa chọn ba tác giả nào làm đối tượng khảo sát và vì sao?

Luận án lựa chọn ba tác giả nữ gồm: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy. Ba tác giả này đại diện cho ba vùng không gian văn hóa và ba phong cách nghệ thuật tiêu biểu của văn học đổi mới: Nguyễn Thị Thu Huệ tiêu biểu cho văn xuôi đô thị miền Bắc; Nguyễn Ngọc Tư đại diện cho mảnh đất Nam Bộ; Đỗ Bích Thúy đại diện cho đề tài vùng cao, miền núi phía Bắc.

2. Sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người trong luận án được chia thành những mô hình nào?

Quan niệm nghệ thuật về con người được tác giả phân tích qua ba mô hình hình tượng chính:

  1. Hình tượng con người đẹp, thuần hậu, chí tình chí nghĩa (đức hy sinh của người phụ nữ vùng cao, lối hành xử tình nghĩa kiểu Lục Vân Tiên của người Nam Bộ).
  2. Hình tượng con người tha hóa (gồm dạng nhân vật tha hóa có khả năng thức tỉnh và dạng tha hóa không còn khả năng thức tỉnh).
  3. Hình tượng con người bi kịch (bi kịch trong tình yêu, hôn nhân; bi kịch do định kiến, hủ tục xã hội; bi kịch mất mát sau chiến tranh).

3. Những đặc điểm mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật được chỉ ra là gì?

Các tác giả đã giảm bớt lối miêu tả ngoại hình tỉ mỉ, chi tiết truyền thống, chuyển sang bút pháp chấm phá hoặc miêu tả gián tiếp qua cái nhìn của nhân vật khác; có xu hướng tối giản hóa tên tuổi của nhân vật (dùng danh xưng chỉ vị trí gia đình hoặc nghề nghiệp). Trọng tâm miêu tả chuyển sang diễn biến tâm lý, độc thoại nội tâm và chiều sâu tiềm thức.

4. Về mặt ngôn ngữ và giọng điệu, sáng tác của ba tác giả có những nét khu biệt nào?

  • Nguyễn Ngọc Tư nổi bật với phương ngữ Nam Bộ tự nhiên, mộc mạc và giọng trần thuật dung dị, ấm áp, ngậm ngùi.
  • Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng câu văn ngắn gọn, sắc sảo, dồn nén mang nhịp điệu phố thị với giọng điệu biến hóa linh hoạt (táo tợn, châm biếm xen lẫn trữ tình, tự vấn).
  • Đỗ Bích Thúy sử dụng lớp từ ngữ mang đậm dấu ấn phong tục miền núi, cách ví von mộc mạc của đồng bào dân tộc cùng giọng điệu trầm buồn, xót xa cho thân phận người phụ nữ vùng cao.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Hồng là công trình nghiên cứu hệ thống về những cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của ba cây bút nữ tiêu biểu: Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Bích Thúy giai đoạn sau năm 1986. Bằng việc kết hợp phương pháp thi pháp học thể loại, so sánh văn học và nghiên cứu văn học sử, tác giả đã làm rõ sự đổi mới toàn diện từ quan niệm nghệ thuật về con người, kỹ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức tình huống, kết cấu đến sự đa dạng hóa ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Công trình khẳng định đóng góp của các cây bút nữ trong việc định hình diện mạo văn học Việt Nam đương đại, đồng thời cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học.