Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn "Xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại (Qua sáng tác của một số nhà thơ tiêu biểu)" do nghiên cứu sinh Dương Hoài Thương thực hiện năm 2021 tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 9220121), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Đức Hạnh và PGS. TS Cao Thị Hảo.
Luận án Tiến sĩ Văn học (2021)
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ cột mốc Đổi mới năm 1986 đến nay, thơ nữ Việt Nam đã có những bước chuyển mình sâu sắc. Nhiều công trình trước đây đã bước đầu tìm hiểu về chủ nghĩa nữ quyền, thiên tính nữ, sự vận động của cái tôi trữ tình hay hình tượng người phụ nữ trong thơ của một số tác giả như Ý Nhi, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Thảo Phương. Tuy nhiên, vấn đề cách tân nghệ thuật trong thơ nữ đương đại vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Các câu hỏi nghiên cứu cốt lõi như: sự phân hóa giữa thơ nữ truyền thống trước năm 1986 với thơ nữ đương đại diễn ra như thế nào, diện mạo của xu hướng cách tân nghệ thuật vận động ra sao, vẫn còn bỏ ngỏ. Sáng tác của các tác giả thuộc xu hướng đổi mới như Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Đinh Thị Như Thúy, Trương Quế Chi chủ yếu mới được tiếp cận tản mạn qua các bài báo hoặc bài phê bình đơn lẻ. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định rõ ràng mục đích và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Mục đích nghiên cứu: Khảo sát, phân tích, đánh giá xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu; chỉ ra những thành tựu và hạn chế; phác họa tiến trình vận động từ truyền thống đến hiện đại và khẳng định cách tân nghệ thuật là quy luật tất yếu của thơ nữ nói riêng và tiến trình văn học nói chung.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Khảo sát sự đổi mới tư duy nghệ thuật gắn liền với các kiểu loại cái tôi trữ tình trong thơ nữ đương đại.
- Phân tích sự chuyển biến của hệ thống biểu tượng nghệ thuật từ biểu tượng gốc đến các biểu tượng phái sinh.
- Đánh giá các phương thức cách tân về mặt ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật.
- Xác lập vị trí, đóng góp của các tác giả thơ nữ cách tân trong bối cảnh phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại, tập trung vào ba phương diện: tư duy nghệ thuật gắn với các kiểu loại cái tôi trữ tình; hệ thống biểu tượng nghệ thuật; ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật.
- Phạm vi thời gian và tư liệu: Luận án tập trung khảo sát các tác giả, tác phẩm xuất hiện và gây chú ý trên thi đàn từ năm 2000 đến nay. Hệ thống văn bản khảo sát chính bao gồm:
- Phan Thị Vàng Anh: tập thơ Gửi VB (2006).
- Phan Huyền Thư: các tập thơ Nằm nghiêng (2002), Rỗng ngực (2005).
- Ly Hoàng Ly: các tập thơ Cỏ trắng (1999), Lô lô (2005).
- Nguyễn Ngọc Tư: các tập thơ Chấm (2013), Gọi xa xôi (2018).
- Trần Lê Sơn Ý: tập thơ Cơn ngạt thở tình cờ (2007).
- Chiêu Anh Nguyễn: tập thơ C.N (2011).
- Trần Hạ Vi: tập thơ Vi (2020).
- Vi Thùy Linh: 5 tập thơ gồm Khát (1999), Linh (2000), Đồng tử (2005), Vili in love (2008), Phim đôi - tình tự chậm (2010).
- Lynh Bacardi, Khương Hà, Thanh Xuân, Nguyệt Phạm: tập thơ in chung Dự báo phi thời tiết (2006).
- Trương Quế Chi: tập thơ Tôi đang lớn (2005).
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh: tập thơ Di chữ (2017).
- Nồng Nàn Phố (Phạm Thiên Ý): tập thơ Anh ngủ thêm đi anh em còn dậy lấy chồng (2014).
- Lữ Thị Mai: các tập thơ Giấc (2010), Mở mắt rồi mơ (2015).
- Du Nguyên: tập thơ Mục: Xó xỉnh.
- Các tác giả khác như Đinh Thị Như Thúy, Ý Nhi, Dư Thị Hoàn cũng được đưa vào đối sánh lịch đại khi cần thiết.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và phân loại lịch sử nghiên cứu thành ba nhóm công trình chính:
| Nhóm công trình |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung chính và nhận định đã đạt được |
| Nghiên cứu về thơ Việt Nam đương đại |
- Đặng Thu Thủy (2011): Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay, những đổi mới cơ bản - Trần Ngọc Hiếu (2013): Luận án Lý thuyết trò chơi và một số hiện tượng thơ Việt Nam đương đại - Dương Thị Thúy Hằng (2015): Luận án Hành trình cách tân thơ Việt Nam hiện đại (từ sau phong trào thơ Mới) - Nguyễn Bá Thành: Giáo trình tư duy thơ hiện đại Việt Nam - Nguyễn Việt Chiến: Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân - Mai Văn Phấn: Không gian khác - Inrasara: Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại |
Khái quát hành trình vận động của thơ sau 1986; chỉ ra sự bộc lộ khát vọng dục tính gắn với cái tôi cá nhân; nhận diện kết cấu phân tán, lắp ghép; phân tích thể nghiệm hình thức (thơ tự do, thơ văn xuôi) nhưng chưa đi sâu vào từng kiểu loại cái tôi trữ tình và giọng điệu của thơ nữ. |
| Nghiên cứu về cách tân thơ nữ |
- Inrasara: Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố “nữ” - Nguyễn Thị Hưởng: Luận án Ý thức nữ quyền trong thơ nữ Việt Nam giai đoạn 1986 đến nay - Trần Hoàng Thiên Kim (2015): Luận án Thơ nữ Việt Nam hiện đại (từ đầu thế kỉ XX đến nay) - Hồ Tiểu Ngọc: Luận án Thơ nữ Việt Nam 1986 – 2015: Nhìn từ lý thuyết giới - Phan Hồng Hạnh, Phan Thị Hồng Giang, Lưu Khánh Thơ |
Phân tích thiên tính nữ, sự lên ngôi của ý thức phái tính, lối viết thân thể và tính dục (sex and body writing), phân định hai khuynh hướng (tiếp nối truyền thống và cách tân thể nghiệm). Tuy nhiên chủ yếu tập trung vào nội dung tư tưởng nữ quyền. |
| Phê bình về tác giả, tác phẩm cụ thể |
- Về Vi Thùy Linh: Nguyễn Trọng Tạo, Lê Thị Huệ, Nguyễn Thụy Kha, Thụy Khuê, Vũ Mão, Vũ Nho, Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Trần Thiện Khanh - Về Phan Huyền Thư: Nguyễn Việt Chiến, Chu Thị Thơm, Đào Duy Hiệp, Văn Cầm Hải - Về Ly Hoàng Ly: Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phạm Tiến Duật - Về Phan Thị Vàng Anh: Hoàng Hưng, Lê Hồ Quang |
Bộc lộ sự phân cực rõ rệt trong tiếp nhận: một luồng ý kiến ủng hộ, cổ vũ các tìm tòi mới; luồng ý kiến khác phê phán sự thiếu chuẩn mực thẩm mỹ truyền thống hoặc coi đó là trò chơi ngôn từ lệch chuẩn. |
Khoảng trống luận án giải quyết
Luận án xác định các nghiên cứu trước đây hoặc chỉ dừng lại ở bức tranh chung của thơ đương đại, hoặc chỉ khai thác nội dung ý thức nữ quyền dưới góc độ xã hội học/lý thuyết giới. Tác giả lựa chọn giải quyết khoảng trống về thi pháp nghệ thuật: nghiên cứu một cách đồng bộ, bao quát từ tư duy nghệ thuật, phân loại cái tôi trữ tình, tái lập cấu trúc hệ thống biểu tượng đến phân tích đặc trưng ngôn ngữ và tổ chức giọng điệu trong thơ nữ cách tân từ năm 2000 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án xây dựng cơ sở nghiên cứu dựa trên các khái niệm và hệ thống lý thuyết văn học:
- Khái niệm "Cách tân" và "Đương đại":
- Cách tân nghệ thuật: Được hiểu là sự đổi mới ở cả hai phương diện nội dung (lý tưởng nhân sinh, lý tưởng thẩm mỹ, quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người) và hình thức (bút pháp nghệ thuật, cấu trúc thể loại, hệ thống biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu).
- Đương đại: Được giới hạn từ mốc năm 2000 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2021), phản ánh giai đoạn các hiện tượng thơ thể nghiệm xuất hiện tập trung và định hình phong cách rõ nét nhất.
- Khái niệm "Tư duy nghệ thuật" và "Cái tôi trữ tình":
- Tư duy nghệ thuật: Là loại hình tư duy đặc thù của hoạt động sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, vận hành dựa trên tư duy hình tượng kết hợp với logic đa trị, mơ hồ.
- Cái tôi trữ tình: Là sự tự ý thức của chủ thể sáng tạo được biểu hiện trong và bằng phương tiện nghệ thuật, là kết tinh đời sống tinh thần và trải nghiệm cá nhân của nhà thơ.
- Hai nguồn ảnh hưởng lý thuyết chủ yếu:
- Chủ nghĩa hậu hiện đại: Tác động qua cảm quan giải trung tâm (decentering), giải thể đại tự sự, chấp nhận sự phân mảnh, tính giễu nhại (pastiche), kỹ thuật liên văn bản (intertextuality), giải thiêng các chuẩn mực thẩm mỹ truyền thống và giải phóng năng lượng tính dục.
- Lý thuyết giới và phê bình nữ quyền: Định hình ý thức phái tính, giải phóng thân thể nữ giới, thiết lập tư thế chủ động của người phụ nữ trong tình yêu và đời sống cá nhân thông qua lối viết nữ (woman writing).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu văn học định tính:
- Phương pháp loại hình văn học: Nhận diện và khái quát các đặc điểm chung của thơ nữ về cả cấp độ nội dung và hình thức.
- Phương pháp so sánh văn học: Thực hiện đối sánh lịch đại (thơ nữ đương đại với thơ nữ trước năm 1986) và đối sánh đồng đại (giữa các cây bút nữ cách tân với nhau) nhằm làm rõ sự dịch chuyển ngôn ngữ, biểu tượng và giọng điệu.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phân loại các xu hướng biểu tượng, các kiểu loại cái tôi trữ tình và các trường từ vựng mới.
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo thể loại: Thẩm bình, diễn giải cấu trúc văn bản trữ tình, phân tích tương quan giữa hình thức câu thơ, nhịp điệu và cảm xúc.
- Phương pháp thi pháp học và nghiên cứu liên ngành: Vận dụng lý thuyết giới, văn hóa học và mỹ học hậu hiện đại để giải mã văn bản.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn ngữ liệu chính là văn bản tác phẩm từ 18 tập thơ và các sáng tác tiêu biểu của 14 nhà thơ nữ xuất bản trong giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2020, cùng hệ thống văn bản thơ kháng chiến và thơ thời kỳ đầu Đổi mới dùng làm ngữ liệu đối chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu, xác lập cơ sở lý thuyết và phác thảo bối cảnh văn học. Tác giả phân tích tiến trình lịch sử thơ ca Việt Nam qua ba cuộc cách tân lớn: phong trào Thơ mới (1932-1945), thơ ca thời kỳ kháng chiến (1945-1975) và thơ ca sau Đổi mới năm 1986.
Luận án phân chia lực lượng thơ nữ đương đại thành hai bộ phận sáng tác chính:
- Bộ phận tiếp nối truyền thống: Gồm các tác giả như Bùi Tuyết Mai, Bùi Kim Anh, Phạm Dạ Thủy, Đoàn Thị Ký, Lê Khánh Mai, Chử Thu Hằng, Hoàng Việt Hằng, Bình Nguyên Trang; đặc trưng bởi tư duy nghệ thuật kế thừa thơ thời chiến và đầu Đổi mới, ngôn từ nhuần nhị, cấu trúc ổn định.
- Bộ phận cách tân, phá cách: Gồm các tác giả Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Lê Sơn Ý, Chiêu Anh Nguyễn, Trương Quế Chi, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Trần Hạ Vi, Lữ Thị Mai, Du Nguyên.
Chương này cũng phân tích sâu sắc cơ chế tác động của tâm thức hậu hiện đại (hoài nghi nhận thức, giễu nhại, giải thiêng) và lý thuyết nữ quyền (ý thức thân thể, tính dục) vào việc định hình diện mạo mới cho thơ nữ Việt Nam.
Chương 2: Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về tư duy nghệ thuật gắn với các kiểu loại cái tôi trữ tình
Chương 2 tập trung phân tích sự chuyển dịch trong tư duy nghệ thuật và phân loại các dạng thức cái tôi trữ tình:
- Sự đổi mới tư duy nghệ thuật:
- Quan niệm về thơ: Thơ không còn thuần túy là "ngôi đền thiêng" hay phương tiện trực tiếp phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội mà trở thành hành vi tự biểu hiện, một cuộc phiêu lưu ngôn từ mang tính trò chơi và khám phá các vùng mờ vô thức.
- Quan niệm về nhà thơ: Nhà thơ từ bỏ vị trí giáo huấn mang tính sử thi để trở thành một cá nhân bình thường, tự mổ xẻ và đối thoại với chính mình.
- Quan niệm về mối quan hệ giữa nhà thơ và công chúng: Gia tăng tính dân chủ và đối thoại; bạn đọc được nhìn nhận như chủ thể đồng sáng tạo, tham gia giải mã các cấu trúc nghệ thuật đa nghĩa.
- Bốn kiểu loại cái tôi trữ tình tiêu biểu:
- Cái tôi cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, khẳng định cá tính riêng biệt: Ý thức sâu sắc về bản ngã độc lập, từ chối sự hòa tan vào cái ta chung, bộc lộ sự tự tin và cá tính sáng tạo.
- Cái tôi bản thể đòi quyền bình đẳng giới, giải phóng trong tình yêu và tình dục: Phá vỡ các chuẩn mực e ấp truyền thống, chủ động bày tỏ khát khao nhục cảm và vị thế ngang hàng với nam giới (thể hiện rõ qua sáng tác của Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đinh Thị Như Thúy, Trần Hạ Vi).
- Cái tôi vô thức, tâm linh: Khám phá các trạng thái mộng mị, linh cảm, trực giác và những ẩn ức sâu kín trong tâm hồn.
- Cái tôi triết luận, đối thoại và phản biện: Cái tôi chất vấn các thang giá trị xã hội, lật xới các vấn đề nhân sinh, đối thoại với truyền thống và hiện thực đời sống phức tạp.
Chương 3: Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về hệ thống biểu tượng
Chương 3 làm rõ cách thức các nhà thơ nữ đương đại tái cấu trúc và gán nội hàm mới cho các biểu tượng nghệ thuật quen thuộc, đồng thời xây dựng các biểu tượng mới:
- Biểu tượng Nước và các biến thể của Nước: Nước không chỉ mang ý nghĩa mát lành, dịu dàng truyền thống mà trở thành biểu tượng cho sự trôi chảy của thời gian, sự khao khát tính dục, năng lượng sống phồn sinh hoặc sự cô đơn, chìm đắm và tan biến của thân phận người nữ.
- Biểu tượng Đêm và các biến thể của Đêm: Đêm thoát khỏi ý nghĩa bóng tối thụ động để biến thành không gian của sự thức tỉnh, không gian đối thoại nội tâm, sự bùng nổ của những khát khao bản năng và hành trình tìm kiếm bản thể.
- Biểu tượng thân thể nữ gắn với khát khao tính dục: Các bộ phận cơ thể (ngực, môi, da thịt, tóc...) và các trạng thái tính dục được biểu tượng hóa thành ngôn ngữ của quyền lực giới, sự kiêu hãnh phái tính và phương thức khẳng định sự hiện tồn tự do.
- Đối sánh với thơ nữ trước 1986: Nếu thơ nữ trước 1986 chuộng hệ thống biểu tượng ước lệ, thanh cao gắn với thiên nhiên vũ trụ (mây, trăng, hoa, sóng) và mang tính khái quát cộng đồng, thì biểu tượng thơ nữ đương đại mang tính trần thế, đời thường, nhục cảm và phân rã.
Chương 4: Thơ nữ Việt Nam đương đại: Cách tân về ngôn ngữ và giọng điệu
Chương 4 phân tích các phương diện thi pháp hình thức ở cấp độ tổ chức ngôn từ và giọng điệu:
- Cách tân về ngôn ngữ nghệ thuật:
- Ngôn ngữ thân thể giàu màu sắc nhục cảm: Sử dụng trực diện các từ ngữ miêu tả xúc giác, cảm giác xác thịt, phá bỏ các cấm kỵ ngôn từ truyền thống.
- Lớp từ ngữ mới giàu tính ẩn dụ, đa nghĩa, gợi nhiều liên tưởng: Tạo ra các kết hợp từ phi logic, lạ hóa cú pháp, lắp ghép từ ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học, đời sống hiện đại vào văn bản thơ.
- Ngôn ngữ văn xuôi mang đậm tính đời thường: Đưa lời ăn tiếng nói sinh hoạt thường nhật, cấu trúc câu văn xuôi xù xì, thô nhám vào thơ, xóa nhòa ranh giới giữa thơ và văn xuôi.
- Các giọng điệu nghệ thuật nổi bật:
- Giọng điệu kiêu hãnh: Thể hiện tâm thế tự tin, khẳng định quyền lực của phái nữ và vẻ đẹp cá nhân.
- Giọng điệu trào lộng, giễu nhại: Sử dụng cách nói ngược, giễu nhại các chuẩn mực cũ, lật ngược ca dao, thành ngữ để bộc lộ cái nhìn phản biện.
- Giọng điệu trung tính – vô âm sắc: Lối trần thuật lạnh lùng, dửng dưng trước những biến cố, phản ánh tâm thức bất an và sự hoài nghi của con người trong xã hội hiện đại.
- Đối sánh giọng điệu: Đối lập với giọng điệu trữ tình êm dịu, nhỏ nhẹ, nhẫn nại và đơn thanh của thơ nữ trước 1986, thơ nữ đương đại tạo lập một cấu trúc đa thanh, phức điệu và giàu tính đối thoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Dựa trên toàn bộ nội dung khảo sát, luận án tự xác định các kết quả và đóng góp mới cụ thể sau:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại từ năm 2000 đến nay.
- Góp phần làm sáng tỏ quy luật vận động của thi pháp thơ Việt Nam từ mô hình sử thi, lãng mạn thời chiến sang mô hình thế sự - đời tư và tiếp cận các thủ pháp của chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại.
- Cung cấp khung lý thuyết kết hợp giữa thi pháp học, lý thuyết giới và mỹ học hậu hiện đại để giải mã các hiện tượng văn học đương đại có tính chất thể nghiệm phức tạp.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Khảo sát và định vị giá trị của một khối lượng tư liệu thơ nữ đương đại phong phú gồm các tác giả tiêu biểu như Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Ngọc Tư, Trương Quế Chi, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Trần Hạ Vi.
- Đưa ra cái nhìn khách quan, khoa học để giải tỏa những bất đồng, phân cực trong giới phê bình đối với các hiện tượng thơ thể nghiệm mới.
- Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu học phần Văn học Việt Nam hiện đại và đương đại ở bậc đại học và sau đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ một số giới hạn nội tại và định hướng mở rộng:
- Hạn chế:
- Do giới hạn khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, công trình chỉ tập trung khảo sát sâu các tác giả nữ tiêu biểu xuất hiện từ năm 2000, chưa thể bao quát hết toàn bộ đội ngũ tác giả thơ nữ trẻ đông đảo trên khắp các vùng miền.
- Về phương diện lý thuyết giới, luận án chỉ ra rằng thơ nữ cách tân đương đại chủ yếu mới tập trung phản ánh quyền bình đẳng giới trong phạm vi tình yêu, hôn nhân và đời sống cá nhân; các vấn đề bình đẳng giới trong cấu trúc xã hội, kinh tế và vị thế chính trị vẫn còn xuất hiện mờ nhạt trong sáng tác.
- Một số thể nghiệm của các tác giả trẻ đôi chỗ còn rơi vào tình trạng sắp đặt cơ học, ngôn từ còn thô ráp, gây khó tiếp nhận đối với công chúng rộng rãi.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tác giả thơ nữ thế hệ sau năm 2020 và các hiện tượng thơ nữ hải ngoại.
- Khảo sát đối tượng dưới các góc nhìn lý thuyết mới như phê bình sinh thái (ecocriticism), không gian văn hóa nghệ thuật hoặc nghiên cứu tiếp nhận văn học trên các nền tảng truyền thông số.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng nghiên cứu và đào tạo:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thi pháp học kết hợp lý thuyết giới và hậu hiện đại; sử dụng các chương phân tích biểu tượng, ngôn ngữ và giọng điệu làm mô hình tham chiếu khi nghiên cứu các trào lưu thơ ca đương đại.
- Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng nguồn ngữ liệu, bảng tổng hợp và hệ thống phân tích tác phẩm trong luận án để xây dựng bài giảng cho các chuyên đề: Tiến trình Thơ Việt Nam hiện đại, Văn học nữ quyền, Thi pháp học hiện đại.
- Giáo viên Ngữ văn trường phổ thông: Tham khảo các kiến giải về đổi mới tư duy thơ và hình tượng cái tôi trữ tình để bổ trợ cho việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu các tác phẩm văn học giai đoạn sau năm 1986 trong chương trình giáo dục phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án chia thơ nữ Việt Nam đương đại thành những xu hướng sáng tác nào?
Luận án phân chia thơ nữ Việt Nam đương đại thành hai bộ phận sáng tác chính:
- Bộ phận tiếp nối truyền thống: Tuân thủ thi pháp thơ giai đoạn trước, giữ sự nhuần nhị về thể loại, kết cấu và ngôn từ (tiêu biểu như Bùi Tuyết Mai, Bùi Kim Anh, Phạm Dạ Thủy, Chử Thu Hằng, Hoàng Việt Hằng).
- Bộ phận cách tân, phá cách: Đổi mới mạnh mẽ cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và lý thuyết nữ quyền (tiêu biểu như Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thị Thúy Hạnh, Trần Hạ Vi).
2. Bốn kiểu loại cái tôi trữ tình nổi bật trong thơ nữ đương đại theo xu hướng cách tân là gì?
Trong Chương 2, tác giả xác định bốn kiểu loại cái tôi trữ tình gồm:
- Cái tôi cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ, khẳng định cá tính riêng biệt.
- Cái tôi bản thể đòi quyền bình đẳng giới, giải phóng trong tình yêu và tình dục.
- Cái tôi vô thức, tâm linh.
- Cái tôi triết luận, đối thoại và phản biện.
3. Ba hệ thống biểu tượng nghệ thuật chính được phân tích trong luận án là gì?
Trong Chương 3, luận án tập trung làm rõ ba hệ thống biểu tượng và các biến thể của chúng:
- Biểu tượng Nước và các biến thể của Nước (thời gian trôi chảy, năng lượng phồn sinh, sự tan biến).
- Biểu tượng Đêm và các biến thể của Đêm (không gian thức tỉnh, đối thoại nội tâm, khát khao bản năng).
- Biểu tượng thân thể nữ gắn với khát khao tính dục (da thịt, các bộ phận cơ thể như biểu hiện của bản thể và quyền năng phái tính).
4. Thơ nữ đương đại cách tân về mặt giọng điệu như thế nào so với giai đoạn trước 1986?
Nếu thơ nữ trước năm 1986 mang giọng điệu trữ tình êm dịu, nhỏ nhẹ, nhẫn nại, thuần nhất và đơn thanh gắn với cảm hứng sử thi hoặc tình cảm gia đình, thì thơ nữ đương đại tạo dựng một hệ thống giọng điệu đa thanh, bao gồm: giọng điệu kiêu hãnh khẳng định cái tôi; giọng điệu trào lộng, giễu nhại nhằm phản biện chuẩn mực truyền thống; và giọng điệu trung tính - vô âm sắc biểu đạt trạng thái bất an, dửng dưng của con người hiện đại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Dương Hoài Thương đã cung cấp một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về xu hướng cách tân nghệ thuật trong thơ nữ Việt Nam đương đại từ năm 2000 đến nay. Bằng việc phối hợp các phương pháp loại hình, so sánh văn học và vận dụng lý thuyết hậu hiện đại cùng phê bình nữ quyền, tác giả đã làm rõ các chuyển dịch căn bản từ tư duy nghệ thuật, kiểu loại cái tôi trữ tình, cấu trúc biểu tượng đến tổ chức ngôn ngữ và giọng điệu. Công trình đã khẳng định nỗ lực đổi mới thi pháp của các nhà thơ nữ trẻ tiêu biểu, đồng thời chỉ ra tính quy luật tất yếu của cách tân trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập của nền thơ ca Việt Nam đương đại.