CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI Giới thiệu chương Trong chương này tác giả cung cấp một cách nhìn tổng quát về “Các yếu tố ảnh hưởng đến STC của các DN vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam bộ”. Trước tiên là nêu sự cần thiết của đề tài, kế đến là lượt khảo các nghiên cứu trước nhằm xác định khoảng trống, trên cơ sở đó xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu DN vừa và nhỏ (DNVVN) có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp không nhỏ vào GDP, tạo công ăn việc làm, ổn định kinh tế. Tuy nhiên, DNVVN Việt Nam còn nhiều hạn chế về quy mô, mức độ đóng góp và chưa thực sự thể hiện hết khả năng của mình so với các nước (Phùng Thế Đông, 2019). Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các DNVVN có xu hướng thất bại cao hơn so với các DN lớn, mặc dù họ thường được coi là nội lực quan trọng nền kinh tế của một quốc gia (Bloch và Bhattacharya, 2016; Lo và cộng sự, 2016).
Còn theo Gnizy và cộng sự (2014) cho rằng các đặc điểm bao gồm: hạn chế tài nguyên, chiến lược không tốt, cấu trúc thiếu linh hoạt và thiếu quy trình hoạch định chiến lược có thể đã góp phần vào thất bại của họ. Chính vì thế các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thành công của các DNVVN đã chiếm được sự quan tâm của nhiều tác giả gần đây như (Chittithaworn và cộng sự, 2011; Chowdhury và cộng sự, 2013; Marom và Lussier, 2014; Pletnev và Barkhatov, 2016; Alfoqahaa, 2018) 1.1 Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn Đóng góp của DNVVN là rất lớn do có vai trò năng động và tăng tính hiệu quả của nền kinh tế. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của DNVVN trong lưu thông hàng hoá và cung cấp hàng hoá, dịch vụ bổ sung cho các DN lớn. Những đóng góp tích cực của DNVVN cho sự phát triển kinh tế của đất nước như: về khía cạnh xã hội các DNVVN góp phần tạo việc làm cho người lao động, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, góp phần nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội.
Đồng thời DNVVN góp phần giảm bớt sức ép về dân số tại các đô thị lớn. Kết quả sản xuất kinh doanh của các DN đang hoạt động giai đoạn 2011-2017, tăng 9,5%/năm, DN thu hút số lao động làm việc trong khu vực tăng 2 5%/năm, chỉ số vốn tăng 14,2%/năm, lợi nhuận cũng như doanh thu tăng lần lượt là 12,3%/năm, 17,4%/năm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019). DN tập trung nhiều nhất ở vùng Đông Nam Bộ với gần 216,2 nghìn DN chiếm tới 41,7% tổng số DN của cả nước, trong đó lớn nhất là thành phố Hồ Chí Minh với 172,6 nghìn DN, chiếm tới 33,3% tổng số DN của cả nước và đây cũng là vùng thu hút nhiều lao động nhất trong cả nước với hơn 5,3 triệu lao động, chiếm 37,7% số lao động trong các DN của cả nước. Riêng loại hình DNVVN có khoảng 507,86 nghìn DNVVN, chiếm khoảng 98,1 % tổng số DN đang hoạt động trên cả nước (Tổng Cục thống kê, 2018).
Các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ được chọn để nghiên cứu thực nghiệm vì đây là vùng đầu tàu kinh tế năng động của cả nước, gồm 6 tỉnh/thành phố: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh là khu vực đầu tàu về kinh tế 4 tỉnh hạt nhân phát triển kinh tế: TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Vũng Tàu. “Với tổng số diện tích tự nhiên là 23.564 km2, chiếm 7,3 % diện tích cả nước, dân số toàn vùng là hơn 17 triệu người, chiếm 18,17% dân số cả nước. Cả vùng chiếm khoảng 45% GDP, 50% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Đồng thời tổng sản phẩm trên địa bàn tính theo đầu người cao gấp 2 lần mức bình quân của cả nước; hơn 1,7 lần so với vùng Đồng bằng sông Hồng; có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất nước; tốc độ tăng trưởng kinh tế của vùng luôn cao hơn khoảng 1,3 lần đến 1,5 lần tốc độ tăng trưởng bình quân chung cả nước. Vùng tập trung lực lượng lao động đông đảo, có trình độ cao, được chọn để thí điểm nhiều cơ chế, chính sách mới về phát triển kinh tế. Với hệ thống cảng, sân bay quốc tế lớn nhất cả nước, vùng trở thành trung tâm, phát triển các loại hình dịch vụ công nghiệp, công nghệ thông tin, viễn thông, logistics,. lớn nhất Việt Nam.
Vùng có Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, tài chính, ngân hàng, chứng khoán lớn nhất cả nước” (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2019). Cũng theo báo cáo này khu vực Đông Nam bộ đóng góp hơn 1/3 số thu ngân sách cả nước, có đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao và lực lượng DN có trình độ và kinh nghiệm quản lý, là thị trường tiêu thụ lớn và là cửa ngõ giao lưu với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển của các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ chưa tương xứng với tiềm năng cũng như lợi thế của vùng: thiếu bền vững, chất lượng và tốc độ 3 phát triển chưa cao; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với yêu cầu phát triển, hạ tầng còn yếu, chưa kịp so với nhu cầu. Mặc dù đã được quy hoạch thành vùng kinh tế trọng điểm nhưng thiếu thể chế đặc thù cũng như thiếu thể chế điều phối và liên kết.
Đặc biệt khu vực các tỉnh Đông Nam bộ đang dẫn đầu về số lượng đăng ký thành lập mới, về quy mô, vốn…kể các DN giải thể và chờ giải thể so với cả nước.1: Tình hình DN thành lập mới, tạm ngừng kinh doanh, tạm ngừng chờ giải thể và DN giải thể năm 2020 các tỉnh Đông Nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng so với cả nước Số lượng DN đăng Số DN tạm Số lượng DN DN thành lập mới ký tạm ngừng kinh ngừng hoạt động giải thể trong doanh chờ giải thể năm 2020 So với So với So với Số Số So với Số Số cả năm năm lượng lượng cả nước lượng lượng nước 2019 2019 Đông 55.704 20,7% bộ Đồng bằng 39.836 8,7% Sông Hồng Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư,2020 Trong đó, các địa phương có số lượng DN đang hoạt động tập trung nhiều nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh (236.503 DN); Bình Dương (29.412 DN, Đồng Nai (21. Đây cũng là 03 địa phương nằm trong tốp 05 tỉnh có số lượng DN đang hoạt động cao nhất cả nước. Về DN thành lập mới thì số lượng DN thành lập mới trong 07 tháng đầu năm 2019 tập trung nhiều nhất ở các địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh (25.175 DN); Bình Dương (3.779 DN), Đồng Nai (2. 4 Về DN quay trở lại hoạt động: Số lượng DN quay trở lại hoạt động tại khu vực Đông Nam Bộ tập trung chủ yếu ở: Thành phố Hồ Chí Minh (6.951 DN); Bình Dương (604 DN), Đồng Nai (472 DN) Bảng 1.2: Tình hình DN đang hoạt động, thành lập mới quay trở lại hoạt động các tỉnh so với khu vực Đông Nam bộ DN đang hoạt Số DN quay trở lại DN thành lập mới động hoạt động (7/2019) (7/2019) So với So với So với Số khu Số khu Số khu lượng vực lượng vực lượng vực ĐNB ĐNB ĐNB TP.779 9,8% 604 5,9% DƯƠNG ĐỒNG NAI 21.182 5,7% 472 4,6% Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư, 2019 Các địa phương có số DN thành lập mới và số vốn đăng ký mới tăng nhiều so với cùng kỳ năm 2018 là: Tây Ninh (số DN tăng 20,9%, số vốn tăng 179,1%); Bình Dương (số DN tăng 15,71%, số vốn tăng 21,14%); địa phương có số lượng DN mới và số vốn đăng ký mới trong 07 tháng đầu năm 2019 cùng giảm so với cùng kỳ năm 2018 là Bà Rịa – Vũng Tàu (số DN giảm 8,9%, số vốn giảm 0,4%).
Tỉnh có DN hoạt động trở lại tăng mạnh nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ năm 2018 trong khu vực là: Bà Rịa – Vũng Tàu (tăng 40,5%). Về DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn cao nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 là: Thành phố Hồ Chí Minh (6.315 DN, chiếm 69,9% khu vực); Bình Dương (439 DN, chiếm 4,9%); Đồng Nai (333 DN, chiếm 3,7%); Bà Rịa – Vũng Tàu (330 DN, chiếm 3,7%). Về DN giải thể, chờ giải thể và DN không hoạt động tại địa chỉ đăng ký cao nhất trong 07 tháng đầu năm 2019 là: Thành phố Hồ Chí Minh (2781 DN, chiếm 53,1% khu vực) 5 Đứng trước tình hình như vậy, yêu cầu cấp bách là phải định hướng được cho các DNVVN hướng đi phù hợp, từ đó phát triển DNVVN theo xu hướng phát triển bền vững đi đến thành công. Từ những vấn đề thực tiễn đó dẫn đến việc nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các DN vừa và nhỏ tại các tỉnh Đông Nam bộ” là rất quan trọng.
Giúp cho việc hiểu được đặc tính kinh doanh và tăng trưởng kinh doanh, hỗ trợ phát triển DNVVN cũng như nền kinh tế của một quốc gia.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước (1) Trong nghiên cứu của Storey (1994) “Hiểu biết về lĩnh vực kinh doanh nhỏ”. Storey đã phân tích sự hình thành, phát triển, trong quản lý của các DN nhỏ ở Vương quốc Anh. Nghiên cứu khám phá sự khác biệt mà các DNVVN phải đối mặt trong kinh doanh, đồng thời mức độ thất bại hay thành công của các DN phụ thuộc vào môi trường bao gồm các yếu tố như: chiến lược, quản lý, tài chính…Ưu điểm của nghiên cứu là đo lường được các mục tiêu của DN ở các nước phát triển, đồng thời thảo luận để giảm tỷ lệ thất bại, tăng cường tỷ lệ thành công cho các DN nhỏ, cụ thể như: sự sẵn có trong việc mở rộng tài chính, sự phát triển về cầu, về sự cạnh tranh hay về các kĩ năng như kĩ năng marketing, bán hàng, kĩ năng quản lí hay thậm chí là kĩ năng của người lao động. Tuy nhiên, điểm hạn chế là về tài chính, các chính sách của chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển loại hình DN nhỏ và kinh nghiệm từ các DN thuộc khu vực châu âu-đây là sự khác biệt trong nghiên cứu về DNVVN giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển- với một nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế có sự gia tăng nhưng chưa cao, GDP đầu người vẫn ở mức trung bình.