Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: FDI và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích tác động các yếu tố đến việc thu hút FDI trong khu vực Đông Nam Á Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 3 CHƯƠNG 2: FDI VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT FDI 2. LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 2. Khái niệm Theo Sổ tay về cán cân thanh toán của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF, 1993)1 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Invesment – FDI) là khoản đầu tư của một cá nhân hay tổ chức với mục đích tìm kiếm lợi nhuận lâu dài thông qua doanh nghiệp được thành lập ở một nền kinh tế khác ngoài quốc gia sở tại của cá nhân hay tổ chức đó. Khoản đầu tư trực tiếp chỉ bao gồm nguồn vốn nhận được trực tiếp từ chính nhà đầu tư cá nhân, tổ chức hay các tổ chức có quan hệ mật thiết với nhà đầu tư; không bao gồm các khoản được hình thành từ cam kết, thỏa thuận hoàn trả cho bên thứ 3 như các khoản vay.
Ngoài ra, nhà đầu tư phải duy trì mối liên hệ dài hạn với tổ chức đó cũng như có sức ảnh hưởng nhất định đến việc điều hành, quản trị doanh nghiệp được đầu tư. Tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ít nhất là 10% và có quyền biểu quyết tương ứng. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 2, “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này.” Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc một cá nhân hay tổ chức nước ngoài nào chuyển vốn bằng tiền hay bằng bất kỳ tài sản nào hợp pháp vào Việt Nam với mục đích kinh doanh sinh lợi. Doanh nghiệp có tỷ lệ vốn nước ngoài từ 10% trở lên và có quyền biểu quyết tương ứng thì được xem là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay còn gọi là doanh nghiệp FDI.
Các hình thức FDI được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: theo hình thức pháp lý, theo mục đích đầu tư nhưng cách phân loại phổ biến là phân loại theo hình thức thâm nhập. Theo cách phân loại hình thức thâm nhập thì FDI có 2 loại là 1 Balance of payment manual: 5th edition, đoạn 359, 362, 368 4 đầu tư mới (Greenfield investment) và đầu tư thông qua mua bán, sáp nhập (Mergers and Acquisitions). Đầu tư mới là khi công ty mẹ thành lập cơ sở kinh doanh tại một quốc gia khác, bao gồm cả cơ sở hạ tầng cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh như nhà xưởng, máy móc thiết bị, văn phòng… Khi đầu tư theo hình thức đầu tư mới các nhà đầu tư nước ngoài được toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp theo mục tiêu, định hướng của mình song đồng thời cũng đòi hỏi khả năng quản lý tốt hơn hình thức mua bán, sáp nhập. Mua bán, sáp nhập là hình thức đầu tư khác của FDI, là hình thức mà nhà đầu tư, thường là tổ chức nước ngoài tìm cách mua lại, thâu tóm một hay nhiều doanh nghiệp tiềm năng tại các quốc gia mục tiêu.
Đầu tư bằng hình thức này giúp giảm bớt lượng hồ sơ pháp lý và các thủ tục liên quan đến việc đăng ký kinh doanh thường rất phức tạp đối với doanh nghiệp nước ngoài cũng như tiết kiệm được thời gian nghiên cứu thị trường, tìm kiếm lượng khách hàng trung thành nhưng nhược điểm chủ yếu là ở việc vận hành doanh nghiệp mới khi có sự đa dạng văn hóa trong cùng một tổ chức. Phân theo hình thức pháp lý thì FDI có 3 loại là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Khoản 7 Điều 2: “Doanh nghiệp liên doanh" là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh”. Hiểu rộng hơn, doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai hay nhiều bên hợp tác thành lập tại một quốc gia chủ quản, quốc gia nhận đầu tư thường dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa doanh nghiệp nội địa liên kết cùng doanh nghiệp có vốn nước ngoài.
Cũng theo Khoản 8 Điều 2 luật này định nghĩa doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn. Hình thức hợp tác dựa trên hợp đồng là hình thức tiến hành hoạt động đầu tư nhưng không thành lập pháp nhân tại quốc gia chủ quản. 5 Xét về mục đích đầu tư thì FDI có 2 hình thức là đầu tư chiều dọc và đầu tư theo chiều ngang. Đầu tư theo chiều dọc là hoạt động đầu tư vào các ngành cung cấp nguyên liệu, công cụ dụng cụ cần thiết hoặc chuyên phân phối đầu ra cho quá trình sản xuất của các doanh nghiệp nội địa.
Đây cũng là hình thức đầu tư phổ biến tại các quốc gia đang phát triển. Mục đích của hoạt động đầu tư theo chiều dọc là nhằm giành quyền kiểm soát đối với các nguồn nguyên liệu, tài nguyên (đối với ngành khai thác khoáng sản) hay tận dụng lợi thế ở các nước sở tại để thiết lập chuỗi giá trị cho chính doanh nghiệp FDI. Đầu tư theo chiều ngang là hoạt động đầu tư vào chính lĩnh vực, ngành nghề họ có lợi thế cạnh tranh tương đối. Mục đích của việc đầu tư nhằm tìm kiếm cơ hội mở rộng và tìm thị trường có khả năng sinh lợi tốt hơn.
Vai trò của FDI Vai trò của FDI có thể dễ dàng nhận thấy được thông qua quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước chủ quản. FDI có thể có đa dạng các tác động tích cực song có thể tóm tắt lại thành bốn vai trò chủ yếu, như sau: Một là FDI là nguồn vốn ổn định bổ sung cho nền kinh tế. Từ 1948 với tác phẩm “kinh tế học”, Paul Samuelson đã giới thiệu lý thuyết “vòng luẩn quẩn” và “cú huých từ bên ngoài”. Theo Samuleson, có 4 nhân tố ảnh hưởng và là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế gồm: nhân lực, tài nguyên, tư bản và kỹ thuật song việc kết hợp 4 yếu tố này tại các nước đang phát triển là điều khó khăn dẫn đến kinh tế rơi vào vòng nghèo khó “luẩn quẩn” (sơ đồ 2.1, phụ lục): tiết kiệm, đầu tư thấp dẫn đến tích lũy vốn thấp; tích lũy vốn thấp dẫn đến không phát triển được trình độ kỹ thuật, năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân thấp và cuối cùng quay lại tiết kiệm, đầu tư thấp.
Vòng tròn này sẽ lặp đi lặp lại cho đến đi có “cú huých từ bên ngoài” đủ mạnh để phá vỡ nó và FDI chính là một trong số những cú huých đó. FDI giúp quốc gia chủ quản giải quyết được vấn đề về đầu tư thấp thông qua chuyển giao vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nền kinh tế, thúc đẩy lượng tích lũy vốn tăng cao. Bên cạnh đó, nói FDI là nguồn vốn ổn định sở dĩ do quan điểm về tính chất dài hạn 6 về thị trường, về triển vọng phát triển, tăng trưởng của các nhà đầu tư khi quyết định chuyển giao nguồn lực sang một quốc gia khác. Cũng chính vì kỳ vọng lâu dài nên dòng vốn FDI ít có khuynh hướng thay đổi hơn so với các hình thức đầu tư nước ngoài khác trong trường hợp xảy ra bất lợi.
Hai là FDI cung cấp công nghệ cần thiết cho sự phát triển kinh tế. Công nghệ không chỉ là yếu tố thúc đẩy mà còn là yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng của một quốc khi nó góp phần cải thiện năng suất và hiệu quả lao động cũng như hiệu quả quản lý. Vì vậy đối với các quốc gia đang phát triển công nghệ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết nhưng để đạt được mục tiêu ngoài vốn cần phải có trình độ khoa học – kỹ thuật nhất định. Findlay (1978) qua nghiên cứu của mình đã khẳng định được tác động của FDI đến quá trình phát triển công nghệ ở quốc gia chủ quản thông qua việc chuyển giao hoặc qua tác động lây lan.
Cụ thể, khi đầu tư hoạt động kinh doanh tại quốc gia kém phát triển hơn các doanh nghiệp FDI thường có xu hướng mang công nghệ từ quốc gia mình sang áp dụng trong sản xuất, kinh doanh, quản lý,… vô hình chung đã tạo cơ hội tiếp cận, học tập, nâng cao trình độ công nghệ của lực lượng lao động ở nơi được đầu tư. Hơn thế nữa, FDI đóng góp phần quan trọng trong việc phát triển khả năng khoa học của các cơ sở nghiên cứu tại nước chủ nhà khi trực tiếp tiến hành R&D ở các nước đang phát triển. Trong quá trình tham gia nghiên cứu (đối với một số cá nhân, tổ chức có năng lực được doanh nghiệp FDI hợp tác) và sử dụng, các doanh nghiệp nội địa học được cách thiết kế, chế tạo, hình thành những công nghệ mới từ đó cải tiến, cải biến cho phù hợp với nhu cầu cũng như điều kiện sử dụng của chính mình; như vậy, qua một thời gian, cả về trình độ lẫn nền tảng khoa học – kỹ thuật đều được nâng cao. Ba là FDI góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển thông qua mở rộng thị trường, kích thích xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh toán.
Các quốc gia đang phát triển có thể có lợi thế so sánh về khả năng sản xuất và mức chi phí đầu vào tương đối thấp song khó có thể tiếp cận được với nhiều thị trường khó tính như Mỹ, Anh, các nước trong khối liên minh Châu Âu (EU),… trong khi sức tiêu thụ nội địa có hạn, 7 nếu không thể xuất khẩu có thể sẽ xảy ra tình trạng tồn hàng. Vì vậy các quốc gia này rất cần đến doanh nghiệp FDI: thông qua doanh nghiệp FDI hàng hóa nội địa mới có thể dễ dàng thâm nhập vào thị trường quốc tế nhờ vị thế, uy tín nhất định của nhà đầu tư nước ngoài.