Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lữ Bá Văn thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, mã số 62340102), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Tiến Dũng và TS. Ngô Quang Huân, hoàn thành năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cà phê là nông sản quy mô toàn cầu với diện tích khoảng 10 triệu ha phân bố tại hơn 79 quốc gia, sản lượng bình quân hàng năm đạt khoảng 151,005,25 triệu bao (tương đương 9,06 triệu tấn, quy chuẩn 1 bao = 60 kg). Trên thị trường quốc tế, hai chủng loại giao dịch chủ lực là cà phê Arabica (giao dịch tại Sở Giao dịch Hàng hóa New York - NYBOT) và cà phê Robusta (giao dịch tại Sở Giao dịch Hàng hóa London - LIFFE), vận hành song song trên thị trường hàng thật (physical) và thị trường hàng hóa phái sinh (derivative products).

Tại Việt Nam, ngành cà phê giữ vị thế quốc gia sản xuất đứng thứ hai thế giới (sau Brazil) với sản lượng bình quân khoảng 1,3 triệu tấn/năm, chiếm tỷ trọng 16,1% sản lượng toàn cầu và giữ vị trí đứng đầu thế giới về chủng loại cà phê Robusta. Theo Niên giám thống kê năm 2014, diện tích trồng cà phê cả nước đạt khoảng 641,7 nghìn ha; theo số liệu điều tra thực tế năm 2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tổng diện tích đạt 653,35 nghìn ha (trong đó cà phê Robusta chiếm 608.000 ha, Arabica chiếm 45.350 ha). Năm 2014, khối lượng xuất khẩu đạt 1,6906 triệu tấn, đạt kim ngạch khoảng 3,5569 tỷ USD, đóng góp khoảng 2,37% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Mặc dù đóng góp giá trị kinh tế lớn, ngành cà phê Việt Nam bộc lộ nhiều điểm thiếu bền vững: hoạt động sản xuất mang nặng tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, manh mún, thiếu tập trung, tập quán canh tác lạc hậu và năng lực tài chính hạn chế; hoạt động kinh doanh của các thương nhân còn thiếu kinh nghiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sức cạnh tranh thấp. Công tác quản trị rủi ro của các tổ chức, cá nhân bộc lộ nhiều hạn chế do thiếu nền tảng lý luận đồng bộ. Các nghiên cứu trước đây chưa nhận diện toàn diện các yếu tố rủi ro trong cả hai mắt xích sản xuất và kinh doanh, đồng thời thiếu một thang đo hữu hiệu để lượng hóa mức độ tác động của từng nhân tố. Việc bổ sung cơ sở lý thuyết, nhận diện đầy đủ các yếu tố rủi ro và xây dựng hệ thống thang đo chuẩn hóa nhằm đề xuất các hàm ý quản trị rủi ro là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định các yếu tố rủi ro, xây dựng hệ thống thang đo mới nhằm đo lường mức độ tác động của các yếu tố rủi ro đến kết quả sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam; từ đó đề xuất các hàm ý quản trị phục vụ công tác quản trị rủi ro, đồng thời bổ sung cơ sở lý thuyết về rủi ro và quản trị rủi ro trong ngành cà phê.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định các yếu tố rủi ro, giải quyết khoảng trống nghiên cứu thông qua việc xem xét rủi ro một cách toàn diện, xuyên suốt, chi tiết và làm rõ tính hai mặt của rủi ro (bất lợi và thuận lợi), từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu.
    2. Xây dựng thang đo lường rủi ro nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến kết quả sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam.
    3. Đưa ra các hàm ý quản trị đối với quá trình sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam.
    4. Bổ sung cơ sở lý thuyết về rủi ro và quản trị rủi ro nói chung và trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cà phê nói riêng.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Những yếu tố rủi ro nào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam và những khoảng trống nghiên cứu nào sẽ được giải quyết thông qua nghiên cứu này?
  2. Mối quan hệ giữa các yếu tố rủi ro với kết quả sản xuất và kết quả kinh doanh cà phê tại Việt Nam là gì?
  3. Những hàm ý quản trị nào được đặt ra đối với quá trình sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam?
  4. Những đóng góp nào từ kết quả nghiên cứu của đề tài cho khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu về rủi ro và quản trị rủi ro?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố rủi ro tác động ảnh hưởng đến kết quả sản xuất và kết quả kinh doanh cà phê tại Việt Nam (tập trung vào sản phẩm cà phê nhân).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế được triển khai tại các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên (địa bàn sản xuất trọng điểm) và Thành phố Hồ Chí Minh (trung tâm giao dịch, kinh doanh và xuất khẩu).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu khảo sát và thông tin thực tế tập trung trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015, kết hợp khai thác chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1990 – 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các yếu tố rủi ro trong ngành hàng cà phê và nông nghiệp.

Các nghiên cứu quốc tế

  • Ngân hàng Thế giới (WB, 2004 - Báo cáo số 29358-VN): Nhận diện các yếu tố rủi ro trong sản xuất (giá cả, vốn sản xuất, thời tiết [hạn hán, mưa nhiều, sương muối], sâu dịch bệnh, mất cân đối sản xuất) và kinh doanh (biến động giá, thị trường tài chính quốc tế, vốn kinh doanh, kỹ thuật kinh doanh, tâm lý hành vi nhà kinh doanh). Nghiên cứu chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng giá cà phê năm 2001 nên mang góc nhìn thiên về tiêu cực, chưa xem xét các yếu tố công nghệ, kỹ thuật sản xuất, tâm lý nhà sản xuất và tác động từ nhà rang xay thế giới hay quỹ đầu cơ quốc tế.
  • UNCTAD/WTO (2002 - Coffee an Exporter’s guide): Phân tích rủi ro trong kinh doanh cà phê xuất khẩu gồm giá cả thị trường, kỹ thuật kinh doanh, nhà rang xay thế giới, quỹ đầu cơ quốc tế, thông tin thị trường, vốn kinh doanh và yếu tố xã hội. Công trình chưa tích hợp thị trường tài chính thế giới và chưa liên kết với các yếu tố rủi ro từ khâu sản xuất.
  • Quoc V. Luong và Loren W. Tauer (2004 - A Real Options Analysis of Coffee Planting in Vietnam): Phân chia người sản xuất cà phê thành ba nhóm dựa trên chi phí khả biến bình quân: chi phí thấp (13,2 US cent/lb, ngưỡng vào sản xuất 38,8 US cent/lb, ngưỡng rút lui 10,2 US cent/lb, năng suất 3 tấn/ha), chi phí trung bình (19 US cent/lb, ngưỡng vào 47,2 US cent/lb, ngưỡng rút lui 14,2 US cent/lb, năng suất 2,08 tấn/ha), và chi phí cao (27 US cent/lb, ngưỡng vào 58,4 US cent/lb, ngưỡng rút lui 20 US cent/lb, năng suất 1,456 tấn/ha).
  • Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO, 2014 - World coffee trade 1963-2013): Đánh giá 50 năm phát triển ngành cà phê toàn cầu; nhận diện rủi ro sản xuất (giá cả, mất cân đối sản xuất, xã hội) và kinh doanh (giá cả, kỹ thuật kinh doanh, quỹ đầu cơ, nhà rang xay, thị trường tài chính, xã hội). Luận án nhận định khi áp dụng vào Việt Nam cần bổ sung yếu tố thời tiết, công nghệ, vốn, tỷ giá và tâm lý hành vi.
  • Thinh Hoang Si & Huong Nguyen Thi (2015): Tập trung vào rủi ro từ biến động giá cả thị trường.
  • Ngân hàng Thế giới (WB, 2015 - Báo cáo số 93923): Phân tích các trường hợp điển hình, chỉ ra rủi ro sản xuất (thời tiết, sâu dịch bệnh, vốn, thể chế chính trị) và rủi ro kinh doanh (giá cả, tỷ giá hối đoái, vốn kinh doanh).
  • Bunn Christian (2015): Xây dựng mô hình tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất cà phê toàn cầu, chỉ ra sự gia tăng chi phí do tính nhạy cảm khí hậu của cây cà phê.
STT Công trình nghiên cứu Yếu tố rủi ro sản xuất Yếu tố rủi ro kinh doanh
01 WB (2004) Giá cả, vốn sản xuất, thời tiết, sâu dịch bệnh, mất cân đối sản xuất Giá cả, thị trường tài chính quốc tế, vốn kinh doanh, kỹ thuật kinh doanh, tâm lý hành vi nhà kinh doanh
02 UNCTAD/WTO (2002) (Không đề cập) Giá cả, kỹ thuật kinh doanh, nhà rang xay thế giới, quỹ đầu cơ quốc tế, thông tin thị trường, vốn kinh doanh, yếu tố xã hội
03 Quoc Luong & Loren W. Tauer (2004) Giá cả thị trường, tâm lý hành vi nhà sản xuất (Không đề cập)
04 ICO (2014) Giá cả thị trường, mất cân đối sản xuất, yếu tố xã hội Giá cả, kỹ thuật kinh doanh, quỹ đầu cơ quốc tế, nhà rang xay, thị trường tài chính, yếu tố xã hội
05 Thinh Hoang Si & Huong Nguyen Thi (2015) Giá cả thị trường (Không đề cập)
06 WB (2015) Thời tiết, sâu dịch bệnh, vốn sản xuất, thể chế chính trị Giá cả, tỷ giá hối đoái, vốn kinh doanh
07 Bunn, Christian (2015) Biến động thời tiết / biến đổi khí hậu (Không đề cập)

Các nghiên cứu trong nước

  • Trung tâm Địa lý, Tài Nguyên - Viện Khoa học Việt Nam (1987): Đánh giá ảnh hưởng của thời tiết và điều kiện khí hậu đối với các vùng sinh thái trồng cà phê tại Việt Nam.
  • Nguyễn Sỹ Nghị và cộng sự (1996): Khảo cứu các rủi ro từ sâu dịch bệnh và kỹ thuật canh tác tác động đến năng suất cây cà phê.
  • Bùi Thị Gia và Trần Hữu Cường (2005): Phân loại rủi ro nông nghiệp gồm: sản xuất (giá cả, vốn, kỹ thuật, công nghệ, thể chế chính trị, xã hội, tâm lý hành vi nhà sản xuất) và kinh doanh (thị trường tài chính quốc tế, tâm lý hành vi nhà kinh doanh).
  • Trần Thị Quỳnh Chi (2007): Xác định rủi ro sản xuất (giá cả, thể chế chính trị, xã hội, vốn, mất cân đối sản xuất) và rủi ro kinh doanh (giá cả, tỷ giá, thể chế chính trị, xã hội, vốn, thị trường tài chính, tâm lý hành vi nhà kinh doanh).
  • Nguyễn Thị Ngọc Trang (2011): Nghiên cứu thị trường hàng hóa giao sau nhằm phòng ngừa rủi ro biến động giá cho nông sản.
STT Công trình nghiên cứu Yếu tố rủi ro sản xuất Yếu tố rủi ro kinh doanh
01 TT Địa lý, Tài Nguyên - Viện KHKTVN (1987) Thời tiết (Không đề cập)
02 Nguyễn Sỹ Nghị và cộng sự (1996) Sâu dịch bệnh, kỹ thuật sản xuất (Không đề cập)
03 Bùi Thị Gia & Trần Hữu Cường (2005) Giá cả, vốn, kỹ thuật, công nghệ, thể chế chính trị, xã hội, tâm lý nhà sản xuất Thị trường tài chính quốc tế, tâm lý hành vi nhà kinh doanh
04 Trần Thị Quỳnh Chi (2007) Giá cả, thể chế chính trị, xã hội, vốn, mất cân đối sản xuất Giá cả, đồng tiền thanh toán và tỷ giá, thể chế chính trị, xã hội, vốn kinh doanh, thị trường tài chính, hành vi nhà kinh doanh
05 Nguyễn Thị Ngọc Trang (2011) Giá cả thị trường (Không đề cập)

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trước đây tiếp cận rủi ro một cách rời rạc, chủ yếu tập trung vào từng yếu tố đơn lẻ (như giá hoặc thời tiết), tách biệt khâu sản xuất với khâu kinh doanh, xem rủi ro thuần túy là tổn thất tiêu cực mà bỏ qua tính hai mặt (nguy cơ và cơ hội), đồng thời chưa thiết lập thang đo lượng hóa để kiểm định thực nghiệm trong bối cảnh chuỗi ngành hàng cà phê Việt Nam. Luận án giải quyết các khoảng trống này bằng việc xây dựng mô hình tích hợp đồng thời cả hai lĩnh vực sản xuất và kinh doanh, kiểm định thang đo cho cả hai biến phụ thuộc là "Biến động tiềm ẩn ở kết quả" và "Tổn thất".


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng

  • Khái niệm về rủi ro:
    • Trường phái truyền thống (tiêu cực): Hoàng Phê (1995), Nguyễn Lân (1998), Từ điển Oxford, Hồ Diệu (2002) xem rủi ro là điều không may, nguy hiểm, thiệt hại hoặc sự giảm sút lợi nhuận so với dự kiến.
    • Trường phái trung hòa: Frank Knight (1921 - bất trắc đo lường được), Allan Herbert Willett (1951), Arthur William et al. (1964 - biến động tiềm ẩn ở các kết quả, gây nên sự bất định), David Apgar (2008).
    • Các quan điểm khác: Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2013), Aswath Damodaran (2010 - rủi ro gồm cả tỷ suất sinh lời thấp hơn và cao hơn kỳ vọng), Ngô Quang Huân và cộng sự (1998 - sự biến động tiềm ẩn ở các kết quả, có tính khách quan và đo lường được).
    • Định nghĩa rủi ro của tác giả Lữ Bá Văn: "Rủi ro là biến cố ứng với một xác suất làm biến đổi các kết quả của sự kiện không theo mong muốn hoặc dự tính ban đầu. Mặt khác, sự xuất hiện của rủi ro cũng có thể gây ra tổn thất với mức độ khó đoán trước. Rủi ro mang tính hai mặt là bất lợi và thuận lợi. Suy cho cùng thì rủi ro là hiện tượng khách quan xảy ra ngoài ý muốn của con người nhưng có thể nhận biết, đo lường, kiểm soát và có thể có khả năng chuyển đổi từ bất lợi thành thuận lợi."
  • Khái niệm về tổn thất và chi phí rủi ro:
    • Chi phí rủi ro (Ngô Quang Huân và cộng sự, 1998): Toàn bộ thiệt hại, mất mát về người và của quy thành tiền; chi phí bồi thường tổn thất; chi phí chia sẻ rủi ro (phí bảo hiểm).
    • Tổn thất (Nguyễn Anh Tuấn, 2006): Thiệt hại về tài sản, cơ hội mất hưởng, con người, tinh thần và sự nghiệp do rủi ro gây ra; phân loại theo khả năng đo lường (trực tiếp, gián tiếp) và đối tượng thiệt hại (tài sản, sức khỏe/con người/tinh thần).
  • Khái niệm biến động tiềm ẩn ở các kết quả: Tác giả định nghĩa là những thay đổi ở kết quả sản xuất (BDKQSX) hoặc kinh doanh (BDKQKD) làm sai lệch so với dự tính ban đầu, ẩn chứa bên trong và do rủi ro gây ra; phân loại thành biến động kết quả tăng lên và biến động kết quả giảm xuống so với dự tính ban đầu.
  • Mối quan hệ nhân quả: Rủi ro và tổn thất, cũng như rủi ro và biến động tiềm ẩn, có mối quan hệ nhân quả: rủi ro là nguyên nhân (phản ánh mặt chất), còn tổn thất và biến động tiềm ẩn là kết quả (phản ánh mặt lượng).
  • Quản trị rủi ro (Risk Management):
    • Kế thừa định nghĩa của Merna & F. Al-Thani (2005) và Đoàn Thị Hồng Vân và cộng sự (2013). Tác giả bổ sung định nghĩa: "Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện, thường xuyên, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro trên cơ sở dự báo xác suất xuất hiện, đồng thời tìm cách biến đổi rủi ro bất lợi thành có lợi."
    • Quy trình 4 bước theo Ngô Quang Huân và cộng sự (1998): Nhận biết rủi ro (nhận dạng rủi ro, phân tích tổn thất và hiểm họa) -> Đo lường rủi ro (tần suất và mức độ nghiêm trọng) -> Kiểm soát rủi ro (né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu) -> Tài trợ rủi ro (xử lý thâm hụt tài chính, quỹ dự phòng, bảo hiểm).

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Luận án thiết lập mô hình hồi quy đa biến xem xét tác động của các yếu tố rủi ro đến 4 biến phụ thuộc:

  1. Mô hình Biến động kết quả sản xuất cà phê: $$\text{BDKQSX} = \beta_1 + \beta_2\text{GTT} + \beta_3\text{KTSX} + \beta_4\text{CN} + \beta_5\text{THT} + \beta_6\text{SDB} + \beta_7\text{VSX} + \beta_8\text{MCDSX} + \beta_9\text{TCCTSX} + \beta_{10}\text{XHSX} + \beta_{11}\text{HVNSX} + u_1$$
  2. Mô hình Tổn thất sản xuất cà phê (TTSX) kết hợp các biến độc lập sản xuất và phần dư $u_2$.
  3. Mô hình Biến động kết quả kinh doanh cà phê (BDKQKD) chịu tác động của các biến độc lập: Giá cả thị trường (GTT), Kỹ thuật kinh doanh (KTKD), Thông tin thị trường (TTTT), Quỹ đầu cơ quốc tế (QDCQT), Nhà rang xay thế giới (NRX), Thị trường tài chính quốc tế (TTTC), Đồng tiền thanh toán và tỷ giá hối đoái (DTTTG), Vốn kinh doanh (VKD), Thể chế chính trị kinh doanh (TCCTKD), Yếu tố xã hội kinh doanh (XHKD), Tâm lý hành vi nhà kinh doanh (HVNKD) và phần dư $u_3$.
  4. Mô hình Tổn thất kinh doanh cà phê (TTKD) kết hợp các biến độc lập kinh doanh và phần dư $u_4$.

Phương pháp nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu áp dụng khung của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) gồm 6 bước:

[Vấn đề nghiên cứu & Cơ sở lý thuyết]
               ↓
[Bước 1: Xây dựng thang đo bằng Kỹ thuật Delphi (Phỏng vấn sâu chuyên gia)]
               ↓
[Bước 2: Nghiên cứu sơ bộ định tính (Thảo luận nhóm tập trung & phỏng vấn)]
               ↓
[Bước 3: Nghiên cứu sơ bộ định lượng (Kiểm định sơ bộ Cronbach's Alpha & EFA)]
               ↓
[Bước 4: Nghiên cứu chính thức định lượng (Cronbach's Alpha, EFA, Tương quan, Hồi quy, ANOVA, VIF, Phần dư)]
               ↓
[Bước 5: Đánh giá thực trạng về rủi ro và quản trị rủi ro]
               ↓
[Bước 6: Đề xuất hàm ý quản trị]
  • Phương pháp định tính: Áp dụng kỹ thuật Delphi qua nhiều vòng tham vấn chuyên gia và thảo luận nhóm tập trung (hội thảo) với các nhà sản xuất, thương nhân và nhà khoa học để hiệu chỉnh danh mục biến quan sát và thang đo sơ bộ.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng phần mềm SPSS thực hiện các kiểm định:
    • Phân tích hệ số tin cậy Cronbach's Alpha.
    • Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) dựa trên hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin), kiểm định Bartlett và ma trận xoay nhân tố.
    • Phân tích tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến.
    • Phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA).
    • Kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF - Variance Inflation Factor).
    • Phân tích phần dư ($u_1, u_2, u_3, u_4$) để kiểm tra tính vững của mô hình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể của luận án. Nội dung chương trình bày bối cảnh ngành cà phê toàn cầu và vị thế của Việt Nam; phân tích thực trạng sản xuất quy mô nhỏ lẻ, thiếu bền vững và hoạt động thương mại còn nhiều bất cập. Chương 1 công bố mục tiêu nghiên cứu, hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng khảo sát tại Tây Nguyên và TP.HCM trong giai đoạn 2010 – 2015, đồng thời phác thảo cấu trúc 5 chương của toàn bộ luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp các trường phái lý thuyết về rủi ro, phân loại rủi ro (theo nguồn gốc, môi trường tác động, đối tượng, ngành nghề), lý thuyết chi phí rủi ro, định nghĩa tổn thất và biến động tiềm ẩn. Tác giả phát triển khái niệm rủi ro mang tính hai mặt (thuận lợi và bất lợi). Chương này hệ thống hóa 7 công trình quốc tế và 5 công trình trong nước, xây dựng khung phân tích gồm 10 yếu tố rủi ro sản xuất và 11 yếu tố rủi ro kinh doanh, đồng thời thiết lập 4 phương trình hồi quy lý thuyết tương ứng với 4 nhóm giả thuyết ($HSX, H'SX, HKD, H'KD$).

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu 6 bước kết hợp định tính và định lượng. Nội dung trình bày cách thức triển khai kỹ thuật Delphi phỏng vấn chuyên gia để thiết kế thang đo ban đầu; phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu trong nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức tại hai khu vực địa lý trọng điểm; các tiêu chuẩn thống kê áp dụng trong đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích EFA, phân tích hồi quy và các kiểm định phương sai, phần dư, đa cộng tuyến trên phần mềm SPSS.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và đánh giá thực trạng

Chương 4 là chương trọng tâm thực nghiệm, trình bày kết quả kiểm định thang đo và mô hình hồi quy qua hai giai đoạn NCSB và NCCT, đồng thời phân tích thực trạng ngành.

  • Kết quả kiểm định thang đo và mô hình:
    • Lĩnh vực sản xuất: Sau quá trình sàng lọc, các yếu tố rủi ro được khẳng định gồm 8 nhóm nhân tố: Biến động giá cả thị trường (GTT), Thời tiết (THT), Sâu dịch bệnh (SDB), Kỹ thuật sản xuất (KTSX), Công nghệ (CN), Mất cân đối trong sản xuất (MCDSX), Vốn sản xuất (VSX), Tâm lý hành vi nhà sản xuất (HVNSX). Các kiểm định KMO, Bartlett, Cronbach's Alpha, hệ số VIF và kiểm định ANOVA phần dư ($u_1, u_2$) đều đạt yêu cầu thống kê.
    • Lĩnh vực kinh doanh: Các yếu tố rủi ro được khẳng định gồm 9 nhóm nhân tố: Biến động giá cả thị trường (GTT), Kỹ thuật kinh doanh (KTKD), Quỹ đầu cơ quốc tế (QDCQT), Nhà rang xay thế giới (NRX), Thông tin thị trường (TTTT), Thị trường tài chính quốc tế (TTTC), Đồng tiền thanh toán và tỷ giá hối đoái (DTTTG), Vốn kinh doanh (VKD), Tâm lý hành vi nhà kinh doanh (HVNKD). Các kiểm định mô hình với biến phụ thuộc BDKQKD và TTKD cùng phần dư ($u_3, u_4$) được xác nhận có ý nghĩa thống kê.
  • Đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro:
    • Thực trạng sản xuất: Phân tích chi tiết số liệu sản xuất cà phê Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2013 (Bảng 4.51); làm rõ các rủi ro từ thời tiết cực đoan (nắng hạn El Nino, mưa lũ La Nina, sương muối), áp lực sâu dịch bệnh, quy trình kỹ thuật bón phân tưới nước, công nghệ sau thu hoạch còn thô sơ, mất cân đối diện tích vượt quy hoạch, thiếu hụt nguồn vốn và tác động tâm lý đám đông của nông dân.
    • Thực trạng kinh doanh: Phân tích diễn biến thị trường thông qua các bảng thống kê phiên giao dịch: phiên giá tăng/giảm trong điều kiện bình thường trên sàn LIFFE (Bảng 4.52, 4.53) và sàn NYBOT (Bảng 4.54, 4.55); phân tích các phiên giao dịch khi Quỹ đầu cơ quốc tế thao túng làm giá tăng/giảm trên sàn LIFFE (Bảng 4.56, 4.57) và NYBOT (Bảng 4.58, 4.59). Phân tích sự chi phối của các tập đoàn rang xay đa quốc gia, sự bất cân xứng thông tin thị trường, biến động tỷ giá USD/VND và năng lực tài chính mỏng của doanh nghiệp xuất khẩu nội địa.

Chương 5: Hàm ý quản trị

Chương 5 hệ thống hóa thang đo hoàn chỉnh cho cả hai lĩnh vực sản xuất và kinh doanh cà phê; đúc kết các phát hiện thực nghiệm về mức độ tác động của từng nhân tố; đề xuất chương trình quản trị rủi ro toàn diện theo 4 giai đoạn (nhận dạng, đo lường, kiểm soát, tài trợ); nêu rõ các hạn chế chưa thực hiện được của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và phương pháp khoa học

  • Xây dựng hệ thống thang đo chuẩn hóa: Luận án đã xây dựng và kiểm định thang đo lường mức độ tác động của các yếu tố rủi ro đối với kết quả sản xuất (8 nhân tố) và kết quả kinh doanh cà phê (9 nhân tố) tại Việt Nam.
  • Bổ sung quan niệm hai mặt về rủi ro: Luận án làm rõ tính hai mặt của rủi ro trong nông nghiệp và thương mại nông sản: rủi ro không chỉ mang lại nguy cơ tổn thất (mặt bất lợi) mà còn hàm chứa cơ hội gia tăng kết quả (mặt thuận lợi) nếu được nhận biết, đo lường và chuyển đổi kịp thời.
  • Xác lập mối quan hệ nhân quả: Luận án làm sáng tỏ về mặt lý luận mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro (nguyên nhân/mặt chất) với hai trạng thái kết quả đầu ra: "Tổn thất" và "Biến động tiềm ẩn ở các kết quả" (kết quả/mặt lượng).
  • Tiếp cận toàn diện chuỗi ngành hàng: Khắc phục tính đơn lẻ của các nghiên cứu trước, luận án kết nối đồng thời cả khâu sản xuất tại nông hộ/nông trường với khâu kinh doanh, xuất khẩu của doanh nghiệp và tác động của thị trường tài chính quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Nhận diện đầy đủ thực trạng rủi ro: Cung cấp bức tranh thực nghiệm về tác động của các phiên giao dịch hàng hóa phái sinh (LIFFE, NYBOT), hoạt động thao túng của quỹ đầu cơ, hành vi ép giá của nhà rang xay thế giới, rủi ro tỷ giá và các rào cản kỹ thuật canh tác, công nghệ sau thu hoạch tại Tây Nguyên.
  • Khung chương trình quản trị rủi ro tích hợp: Đề xuất quy trình quản trị rủi ro cho các nhà quản trị doanh nghiệp và cơ quan điều hành gồm 4 nội dung trọng tâm:
    1. Nhận dạng rủi ro: Định kỳ rà soát các hiểm họa từ môi trường tự nhiên, biến động thị trường kỳ hạn và tâm lý hành vi thị trường.
    2. Đo lường rủi ro: Ứng dụng hệ thống thang đo của luận án để tính toán tần suất xuất hiện và biên độ tổn thất/biến động kết quả.
    3. Kiểm soát rủi ro: Áp dụng các công cụ bảo hiểm giá (hedging) trên sàn giao dịch hàng hóa phái sinh; chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững, chuẩn hóa công nghệ chế biến ướt và sau thu hoạch; kiểm soát diện tích trồng đúng quy hoạch.
    4. Tài trợ rủi ro: Thiết lập quỹ dự phòng rủi ro ngành hàng cà phê, mở rộng các gói tín dụng chuyên biệt và đa dạng hóa công cụ bảo hiểm nông nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào nội dung được luận án trình bày tại mục 5.3 (những vấn đề chưa thực hiện trong nghiên cứu cần được bổ sung) và phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian và đối tượng sản phẩm: Khảo sát thực nghiệm tập trung chủ yếu tại khu vực các tỉnh Tây Nguyên và Thành phố Hồ Chí Minh, với sản phẩm khảo sát trọng tâm là cà phê nhân (chủng loại Robusta chiếm ưu thế). Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát sang các vùng trồng cà phê Arabica ở Tây Bắc, miền Trung hoặc mở rộng sang các phân khúc sản phẩm chế biến sâu (cà phê bột, cà phê hòa tan).
  • Khung thời gian nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát sơ cấp tập trung trong giai đoạn 2010 – 2015. Các nghiên cứu tiếp theo có thể cập nhật chuỗi dữ liệu trong bối cảnh thị trường tài chính và các hiệp định thương mại mới phát sinh.
  • Mở rộng mô hình lượng hóa: Tiếp tục kiểm định thang đo với các mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) hoặc phân tích chuỗi thời gian đối với các biến động tần suất cao trên các sàn giao dịch LIFFE và NYBOT.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, kinh tế nông nghiệp và quản trị rủi ro chuỗi cung ứng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh về rủi ro hai mặt, quy trình nghiên cứu kết hợp kỹ thuật Delphi với phân tích định lượng (EFA, hồi quy đa biến, kiểm định ANOVA phần dư), cùng hệ thống thang đo mẫu tại các phụ lục từ Phụ lục 1 đến Phụ lục 19.
  • Đối với doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu cà phê: Cung cấp các phân tích thực tế về cơ chế vận hành của sàn giao dịch quốc tế LIFFE và NYBOT, nhận diện các bẫy giá của quỹ đầu cơ và kỹ thuật phòng ngừa rủi ro tỷ giá, giá cả.
  • Đối với các nhà sản xuất, hợp tác xã nông nghiệp: Cung cấp căn cứ nhận diện 8 nhóm rủi ro sản xuất, từ đó điều chỉnh kỹ thuật canh tác, cân đối vốn đầu tư và tránh tâm lý đám đông khi giá thị trường biến động.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội (Bộ NN&PTNT, VICOFA): Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về diện tích, sản lượng, kim ngạch xuất khẩu để hoạch định chính sách quy hoạch vùng trồng, kiểm soát nguồn cung và xây dựng quỹ tài trợ rủi ro ngành hàng cà phê.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả luận án định nghĩa rủi ro như thế nào và điểm khác biệt so với trường phái truyền thống là gì?
Trả lời: Tác giả Lữ Bá Văn định nghĩa: "Rủi ro là biến cố ứng với một xác suất làm biến đổi các kết quả của sự kiện không theo mong muốn hoặc dự tính ban đầu. Mặt khác, sự xuất hiện của rủi ro cũng có thể gây ra tổn thất với mức độ khó đoán trước. Rủi ro mang tính hai mặt là bất lợi và thuận lợi...". Điểm khác biệt so với trường phái truyền thống (vốn chỉ xem rủi ro là điều không may, tổn thất tiêu cực) là luận án khẳng định rủi ro có tính hai mặt: vừa có nguy cơ bất lợi vừa có cơ hội thuận lợi, có thể nhận biết, đo lường, kiểm soát và có khả năng chuyển đổi từ bất lợi thành thuận lợi.

2. Luận án xác định những nhóm yếu tố rủi ro nào ảnh hưởng đến kết quả sản xuất cà phê tại Việt Nam?
Trả lời: Kết quả nghiên cứu xác định 8 nhóm yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến sản xuất cà phê gồm: (1) Biến động giá cả thị trường (GTT), (2) Yếu tố thời tiết (THT), (3) Sâu dịch bệnh (SDB), (4) Kỹ thuật sản xuất (KTSX), (5) Yếu tố công nghệ (CN), (6) Mất cân đối trong sản xuất (MCDSX), (7) Vốn sản xuất (VSX), và (8) Tâm lý hành vi của nhà sản xuất (HVNSX).

3. Những yếu tố rủi ro nào tác động đến kết quả kinh doanh cà phê được mô hình hóa trong luận án?
Trả lời: Mô hình rủi ro kinh doanh bao gồm 9 nhóm yếu tố: (1) Biến động giá cả thị trường (GTT), (2) Kỹ thuật kinh doanh (KTKD), (3) Quỹ đầu cơ quốc tế (QDCQT), (4) Nhà rang xay cà phê thế giới (NRX), (5) Thông tin thị trường (TTTT), (6) Thị trường tài chính quốc tế (TTTC), (7) Đồng tiền thanh toán và tỷ giá hối đoái (DTTTG), (8) Vốn kinh doanh (VKD), và (9) Tâm lý hành vi của nhà kinh doanh (HVNKD).

4. Hai sàn giao dịch hàng hóa quốc tế nào được luận án phân tích làm cơ sở định giá cho cà phê Việt Nam?
Trả lời: Luận án phân tích hai sàn giao dịch quốc tế gồm Sở Giao dịch Hàng hóa London (LIFFE) - nơi giao dịch chuẩn cho cà phê Robusta (chủng loại xuất khẩu chủ lực của Việt Nam) và Sở Giao dịch Hàng hóa New York (NYBOT) - nơi giao dịch chuẩn cho cà phê Arabica.

5. Luận án sử dụng quy trình phương pháp nghiên cứu nào để xây dựng và kiểm định thang đo?
Trả lời: Luận án áp dụng quy trình nghiên cứu hỗn hợp gồm 6 bước: (1) Nghiên cứu định tính bằng kỹ thuật Delphi (phỏng vấn sâu chuyên gia) để xây dựng thang đo; (2) Nghiên cứu sơ bộ định tính (thảo luận nhóm, hội thảo); (3) Nghiên cứu sơ bộ định lượng (kiểm định Cronbach's Alpha, EFA); (4) Nghiên cứu chính thức định lượng (kiểm định Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy đa biến, kiểm định VIF, phân tích ANOVA một yếu tố và kiểm định phần dư $u_1, u_2, u_3, u_4$ trên SPSS); (5) Đánh giá thực trạng rủi ro; (6) Đề xuất hàm ý quản trị.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lữ Bá Văn đã giải quyết toàn diện bài toán nhận diện và lượng hóa các yếu tố rủi ro trong chuỗi sản xuất và kinh doanh cà phê tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (kỹ thuật Delphi) và định lượng thực nghiệm (EFA, hồi quy tuyến tính, kiểm định phương sai và đa cộng tuyến), công trình đã xây dựng thành công hệ thống thang đo chuẩn hóa cho 8 nhóm rủi ro sản xuất và 9 nhóm rủi ro kinh doanh. Công trình đóng góp nền tảng lý luận về tính hai mặt của rủi ro, xác lập mối quan hệ nhân quả giữa rủi ro với tổn thất và biến động tiềm ẩn, đồng thời cung cấp khung chương trình quản trị rủi ro 4 giai đoạn phục vụ hiệu quả cho các doanh nghiệp, người sản xuất và cơ quan hoạch định chính sách ngành cà phê Việt Nam.