Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 5 Chƣơng sau: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và Bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và Hàm ý quản trị 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài Sterck và cộng sự (2005),“ Internal control in the public sector” là một trong những nghiên cứu quốc tế về thực hành kiểm soát nội bộ trong khu vực công, và cung cấp những phát hiện thú vị về các khuôn khổ kiểm soát nội bộ đƣợc sử dụng trong một số quốc gia đƣợc coi là ngƣời tiên phong vào thời điểm đó. Ví dụ, Úc đã thiết lập một mô hình điều khiển trung tâm một cách rõ ràng đề cập đến năm thành tố của khuôn khổ kiểm soát nội bộ Coso đầu tiên. Ở Thụy Điển, hầu hết các tổ chức công cộng sử dụng kết hợp các phƣơng pháp khuyến cáo của chính phủ (dựa trên tiêu chuẩn Coso) cùng với các hệ thống và thủ tục cụ thể đã đƣợc phát triển có tính đến các yếu tố nội bộ nhƣ mô hình tổ chức và loại hình hoạt động thực hiện. Trong chính phủ liên bang của Hoa Kỳ, các tiêu chuẩn về kiểm soát nội bộ cũng dựa trên tiêu chuẩn Coso cung cấp một khuôn khổ kiểm soát nội bộ để xác định và giải quyết các thách thức quản lý hiệu suất lớn và rủi ro nội bộ cao.
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả thì các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB có tác động cùng chiều đến tính hữu hiệu của hệ thống. L, (2009) “Evaluation of Internal Control Systems: A Case Study from Uganda”. International Research Journal of Finance and Economics - Đánh giá hệ thống KSNB trƣờng hợp nghiên cứu tại Uganda. Nghiên cứu Tạp chí quốc tế về kinh tế tài chính.
Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu các nƣớc thành viên khu vực (RMCs) của Tổ chức Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AFDB) tập trung vào Uganda ở Đông Phi. Nghiên cứu này đƣợc tiến hành đối với 11 dự án, nhóm tác giả đã sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, kết hợp phân tích để đánh giá các thành phần của hệ thống KSNB tại Uganda và đƣa ra các đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong hệ thống. Trong mô hình nghiên cứu của tác giả có đến sáu thành phần của hệ thống KSNB: Môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát và công nghệ thông tin. Kết quả cho thấy các dự án hầu nhƣ ít quan tâm đến thành phần giám sát và tác giả đề nghị nên tăng cƣờng hoạt động này.
7 Control in Organizations (2012) “Published by IFAC Evaluating and improving Internal (Iternational Federation of Accountants). Bài báo nêu lên vai trò của hệ thống KSNB; trình bày những tiêu chí để đánh giá và phát triển hệ thống KSNB nhƣ giúp tổ chức, đơn vị đạt đƣợc mục tiêu; xác định vai trò của cá nhân tổ chức; thúc đẩy phát triển văn hóa tổ chức; đảm bảo năng lực, cách đối phó với rủi ro, truyền thông thƣờng xuyên; giám sát và đánh giá, tăng cƣờng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời đƣa ra những hƣớng dẫn áp dụng những nguyên tắc trên vào tổ chức, trong đó các đơn vị cần quan tâm phát triển yếu tố môi trƣờng kiểm soát trong việc nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của đơn vị. Shakirat Adepeju Babatunde & Kabiru Isa Dandago (2014), “Internal Control System Deficiency and Capital Project Mis management in the Nigerian Public Sector”.
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tác động của sự thiếu hụt hệ thống KSNB đến việc quản lý các dự án vốn trong khu vực công Nigeria. Trên cơ sở sử dụng các phƣơng pháp phân tích nhƣ ANOVA, chi-square…để xử lý các số liệu thu thập đƣợc qua 228 dự án vốn, tác giả đã rút ra kết luận rằng việc thiếu hụt hệ thống KSNB có tác động tiêu cực đến việc quản lý các dự án vốn trong khu vực công ở Nigeria. Từ đó, tác giả cũng đã đƣa ra một số kiến nghị để giúp nâng cao việc quản lý các dự án vốn nhƣ việc chính phủ chỉ nên tập trung một số dự án vốn trong một khoảng thời gian nhất định và cần nghiêm túc hơn trong việc quản lý chung của mình. Đồng thời bài nghiên cứu còn nhấn mạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống KSNB sẽ đem lại nhiều lợi ích tốt nhất cho công dân.
Theo kết quả nghiên cứu thì chúng ta cần quan tâm đến hoạt động kiểm soát và hoạt động giám sát nhằm phát huy tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của đơn vị. Leudis Orlando Vega de la Cruz, Yosvani Orlando Lao León, AnyFlor Nieves Julbe (2017) đã có nghiên cứu: “Proposal of a coefficient to evaluate the management of the internal control”. Để đề xuất một chỉ số quản lý cho KSNB của các cơ quan chăm sóc sức khỏe dựa trên việc lập mô hình đa trung tâm kết hợp với việc phát hiện những điểm yếu của hệ thống mạng Petri. Xuất phát từ sứ mệnh nhân đạo - chăm sóc sức khoẻ đối với dân số - cần giảm sự xuất hiện của các sự kiện có thể vi phạm sự toàn vẹn về thể chất và tâm lý của bệnh nhân trong bệnh viện.
Một 8 trong những chiến lƣợc để xem xét mức thách thức này là việc thực hiện đầy đủ hệ thống KSNB, trong đó ƣu tiên việc kiện toàn môi trƣờng kiểm soát và đảnh giá rủi ro nhằm đảm bảo tính bền vững của các công ty bảo hiểm thông qua việc nâng cao hiệu quả chăm sóc ngƣời dân, tính khả thi chỉ trong một mô hình chăm sóc bằng việc kiểm soát định lƣợng trên dân số đã đƣợc xác định và chăm sóc.2 Các công trình nghiên cứu trong nƣớc: Trần Thị Tài (2010) “Tăng cƣờng kiểm soát nội bộ thu, chi ngân sách tại trƣờng Đại học Quảng Nam”. Luận văn đã nêu đƣợc thực tế về công tác KSNB thu, chi ngân sách tại Trƣờng Đại học Quảng Nam những mặt đã đạt đƣợc và những vấn đề còn tồn tại của công tác KSNB thu, chi ngân sách tại đơn vị. Từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cƣờng KSNB thu, chi ngân sách tại đơn vị nhằm giảm thiểu những sai sót, gian lận, trong đó yếu tố môi trƣờng kiểm soát và hoạt động giám sát cần đƣợc nhà trƣờng quan tâm hơn cả. Phạm Bính Ngọ (2011) với đề tài “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng”.
Đề cập tới hệ thống KSNB trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng. Đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung nghiên cứu về hệ thống KSNB theo INTOSAI và mang tính chất đặc thù của đơn vị sử dụng ngân sách nhà nƣớc, việc áp dụng có vận dụng đặc thù của đơn vị và ứng dụng kinh nghiệm KSNB trong các tổ chức công, đề xuất các giải pháp kiểm soát tại đơn vị đặc thù, trong đó tác giả nghiên cứu khuyến cáo Bộ quốc phòng cần đặc biệt quan tâm đến việc hoàn thiện môi trƣờng kiểm soát; thông tin truyền thông và hoạt động giám sát của hệ thống KSNB tại đơn vị. Nguyễn Thu Hoài (2011) “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam”. Tác giả này đã chỉ ra đƣợc khái niệm về hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng và đặc biệt là đề cập tới việc kiểm soát trong điều kiện ứng dụng tin học và áp dụng hệ thống quản trị ERP, các thành phần trong hệ thống KSNB mà tác giả này đƣa ra gồm môi trƣờng kiểm soát.
Hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát gắn liền với đặc điểm của doanh nghiệp ngành xi măng trong điều kiện vận dụng tin học và mối quan hệ với quy trình đánh giá rủi ro. Tác giả đã tiếp cận về hệ thống 9 kiểm soát trên quan điểm coi hệ thống kiểm soát gắn liền với môi trƣờng tin học và cần quan tâm hoạt động đánh gái rủi ro nhiều hơn. Phạm Hồng Thái (2011) với đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của ngành Y tế tỉnh Long An”. Trong nghiên cứu này, dựa vào 5 thành phần cấu tạo nên hệ thống KSNB tác giả đã tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại các đơn vị ngành Y tế tỉnh Long An, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại các đơn vị đƣợc khảo sát.
Việc khảo sát thực trạng hệ thống KSNB tại các đơn vị thuộc ngành Y tế tỉnh Long An tác giả đã dựa trên 5 yếu tố cấu thành theo báo cáo COSO 1992 và tiến hành lập bảng câu hỏi khảo sát. Dựa trên dữ liệu thu đƣợc từ khảo sát, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, so sánh, tổng hợp, phƣơng pháp biện chứng duy vật để phân tích đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp, trong đó đơn vị cần quan tâm phát triển yếu tố môi trƣờng kiểm soát và thông tin, truyền thông; đẩy mạnh hoạt động giám sát trong các hoạt động của đơn vị. Bùi Đỗ Nhƣ Hạnh (2011) với đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi tại nhà khách số 8 Bạch Đằng Văn phòng Trung ƣơng Đảng”. Luận văn đã nêu khái quát một số vấn đề lý luận về KSNB các khoản thu, chi tại đơn vị sự nghiệp có thu, thực trạng KSNB các khoản thu, chi tại Nhà khách số 8 Bạch Đằng từ đó đề ra những giải pháp để hoàn thiện công tác KSNB các khoản thu chi tại Nhà khách số 8 Bạch Đằng Văn phòng Trung ƣơng Đảng, trong đó giải pháp hoàn thiện môi trƣờng kiểm soát; hoạt động kiểm soát và đánh giá rủi ro.
Cao Thị Thanh Tâm (2014) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống KSNB theo INTOSAI dành cho các đơn vị thuộc khu vực công lập. Và trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả đã tiến hành tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng về hệ thống KSNB của các đơn vị y tế trực thuộc ngành y tế tỉnh Tiền Giang dựa trên 5 thành phần cấu thành của hệ thống KSNB theo INTOSAI. Tác giả đã tiến hành khảo sát 16 đơn vị trực thuộc sở y tế tỉnh Tiền Giang bằng bảng câu hỏi khảo sát.