Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Tổng quan lý thuyết và phát triển mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 10 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu 2. Khái niệm về khởi sự doanh nghiệp a/ Khởi sự doanh nghiệp Khởi nghiệp là gì? Khởi nghiệp có thể hiểu là việc một cá nhân hay một nhóm người bắt đầu xây dựng một ý tưởng kinh doanh riêng. Đây là quá trình tạo ra và phát triển một cơ sở sản xuất kinh doanh mới hoặc sáng tạo mặt hàng mới.
Khởi nghiệp là hành trình dài, bởi vì nó yêu cầu sự tự tin, sáng tạo và sự quản lý tốt của những người khởi nghiệp để tạo ra sự nghiệp thành công. Đây là họt động gồm nhiều giai đoạn, như từ việc lên ý tưởng, thực hiện ý tưởng và duy trì, phát triển doanh nghiệp của mình. Ngày nay, một số trường hợp đã đồng nhất thuật ngữ “Khởi nghiệp” với từ “Startup”. Vậy Startup là gì? Trong từ điển Cambridge, thuật ngữ “Startup” được giải nghĩa là bắt đầu một doanh nghiệp mới hoặc hoạt động liên quan đến việc triển khai một doanh nghiệp mới.
Đơn giản hơn, đây là việc một cá nhân hoặc một nhóm người có tầm nhìn đồng nhất về một ý tưởng cùng nhau hoạt động bắt đầu kinh doanh. Tuy không có một định nghĩa pháp lý chính thức cho thuật ngữ này, nhưng có thể hiểu theo quy định tại điều 3 khoản 1, 2 Nghị định 94 năm 2020. Vậy có thể hiểu doanh nghiệp Startup là doanh nghiệp có ba đặc điểm gồm: • Có ý tưởng mới, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh • Triển khai ý tưởng mới và hoạt động có tổ chức • Có giấy tờ pháp lý cho tổ chức hoạt động b/ Vậy khởi nghiệp có phải Startup? Từ các khái niệm trên, có thể thấy, khởi nghiệp là quá trình triển khai kinh doanh, trong khi Startup là một hình thức của việc khởi nghiệp nhưng khởi nghiệp thì 11 không chắc đã là Startup. Để lựa chọn được hình thức khởi nghiệp thành công, bạn cần phân biệt được hai khái niệm này, từ đó xây dựng kế hoạch phù hợp nhất.
Trên con đường lập nghiệp đó, tinh thần bền bỉ chính là chìa khóa để dẫn đến thành công. Khi đối diện với những khó khăn, thử thách, nhưng với tinh thần khởi nghiệp, các doanh nghiệp non trẻ vừa mới hình thành sẽ có sức mạnh để vượt qua mọi trở ngại, đứng vững trên thương trường. Trong mọi lĩnh vực kể cả kinh doanh, không có thành công nào là nhanh chóng và dễ dàng đạt được. Để tiến đến thành công, các doanh nhân mới cần có một tinh thần khởi nghiệp vững mạnh.
Đó chính là sự kiên nhẫn, sáng tạo, ngọn lửa đam mê trong kinh doanh. Chính những yếu tố then chốt mà tinh thần khởi nghiệp mang lại cho doanh nghiệp sẽ là chìa khóa dẫn đến cánh cửa thành công không chỉ với các doanh nghiệp non trẻ, mà ngay cả những doanh nghiệp lớn. Tinh thần khởi nghiệp chính là động lực cho sự không ngừng phát triển, tác động đến sự tăng trưởng, quyết định sự sinh tồn của doanh nghiệp. Trong thời kì hội nhập toàn cầu, rất nhiều cơ hội được mở ra nhưng cũng không ít thách thức không chỉ với doanh nghiệp trẻ, mà ngay cả những doanh nghiệp lớn cũng phải đối mặt để tồn tại và phát triển.
Nếu muốn thành công để hội nhập với thế giới, cả ban lãnh đạo và toàn thể các nhân viên đều phải mang cho mình một tinh thần khởi nghiệp, có cả ý trí, tư duy và kiến thức, phát triển toàn diện. Mang trong mình tinh thần khởi nghiệp, doanh nghiệp có thể nhìn thấy cơ hội trong những thay đổi của thị trường, có khả năng nhận biết và tận dụng những cơ hội trong kinh doanh, thập chí là trong những hoàn cảnh khó khăn. Họ luôn sẵn sàng sáng tạo, tư duy đột phá để tạo ra những giá trị mới. Một đội ngũ có trong mình tinh thần khởi nghiệp sẽ cùng nhau phát triển mạnh mẽ nhờ lòng đam mê, sẵn lòng làm việc chăm chỉ và hy sinh để cùng nhau đạt được mục tiêu cuối cùng.
Bằng tinh thần này, doanh nghiệp sẽ được trang bị thêm sự tự tin, sáng tạo và khát vọng thành công, vượt qua khó khăn để đi con đường dài. Bên cạnh đó, để có tinh thần khởi nghiệp thì ngay từ đầu các cá nhân, các nhóm người trong một tổ chức cần hình thành ý định khởi sự doanh nghiệp. Khái niệm ý định khởi sự doanh nghiệp Ý định là trạng thái nhận thức khi thực hiện một hành vi (Krueger, 2000). Ý định được cấu thành từ bốn yếu tố khác nhau.
Để thực hiện một hành vi thì cần phải cảm nhận hành vi đó trước khi hành động. Krueger (2000), Fishbein (1975) đã định nghĩa cho rằng ý định là bước khởi đầu của hành vi dự định. Trong khi Gartner (1988) ý định khởi sự doanh nghiệp là bước đầu khai phá, phát triển cơ hội kinh doanh và thành lập doanh nghiệp mới, thì quan điểm của Bird (1998) cho rằng ý định khởi sự kinh doanh là biểu hiện tâm lý cá nhân hướng tới việc tạo mới một sự nghiệp làm ăn. Krueger (1993) lại phát biểu rằng ý định khởi sự doanh nghiệp là một cam kết khởi nghiệp thông qua việc thành lập một doanh nghiệp.
Khái niệm này lại được hiểu là sự bắt đầu công việc như một nhà kinh doanh (Gurbuz, 2008). Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng “Ý định khởi sự kinh doanh được hiểu là dự định và cam kết khởi sự kinh doanh của cá nhân về việc thành lập công ty trong tương lai”. Khái niệm về kinh nghiệm thực tế của sinh viên Kinh nghiệm thực tế là những hiểu biết có được thông qua quá trình hành động, những trải nghiệm trong thực tiễn đời sống, công việc. Hiểu một cách đơn giản, đây là những kinh nghiệm được tích góp trong quá trình con người làm việc và học tập.
Những kinh nghiệm này ít khi có thể học tập mà chỉ có thể tích lũy được thông qua trải nghiệm của mỗi người. Kinh nghiệm thực tế đôi khi được đánh giá thông qua kỹ năng mềm, trong cách mà một người giao tiếp với người khác, ứng xử với các tình huống xảy ra. Các kinh nghiệm khởi nghiệp thực tế. Các thực hành khởi nghiệp thực tế là các thực hành giáo dục nơi mà người học có thể đưa ra các ý tưởng, xác định ý tưởng tốt và biến ý tưởng đó thành hành động.
Sinh viên yêu cầu sự tham gia của các đối tác bên ngoài vào thiết kế hoặc phân phối việc học tập này, để đảm bảo thích hợp với thế giới thực. Các kinh nghiệp khởi nghiệp thực tế cung cấp cho các sinh viên môi trường hỗ trợ, các sai lầm và thất bại 13 trở thành công cụ học tập, giúp cho sinh viên giành được sự tự tin và kinh nghiệm để biến các ý tưởng của họ thành hành động trong thế giới thực. Các kinh nghiệm khởi nghiệp thực tế nên là một sáng kiến do sinh viên dẫn dắt hoặc với tư cách cá nhân hoặc như một phần của một nhóm nhỏ, thu hút việc vừa học vừa làm và sản xuất ra một kết quả hữu hình. Khái niệm về trải nghiệm giáo dục khởi nghiệp Theo cơ quan chức năng của Australia về việc làm và giáo dục thì: “Giáo dục khởi nghiệp là giáo dục, bồi dưỡng năng lực, kỹ xảo và các phẩm chất cá nhân như tính cách tân, tính sáng tạo, tính đổi mới cho thế hệ trẻ.
Nó không chỉ giúp người học nắm được các cơ hội trong đời sống và công tác, mà còn giúp họ làm việc cho mình” (Phạm Tất Dong, 2016). Ibrahim and Soufani (2002) đã quan niệm trải nghiệm iáo dục khởi nghiệp nhằm đào tạo ra những con người có phẩm chất và năng lực tạo dựng doanh nghiệp như tinh thần sáng tạo, tư duy đổi mới, chấp nhận mạo hiểm, năng lực giao tiếp, những tri thức về khoa học và công nghệ, đạo đức kinh doanh… Bên cạnh đó, Zeithaml and Rice (1987) cho rằng trải nghiệm giáo dục khởi nghiệp bao trùm toàn bộ phạm vi quản trị kinh doanh, là cách tiếp cận gần nhất với giáo dục quản lý có sẵn trong các trường đại học. Đối với những người mong muốn trở thành doanh nhân, giám đốc điều hành thì trải nghiệm khởi nghiệp sẽ ngày càng trở nên rất cần thiết. Khả năng phát triển của giáo dục khởi nghiệp trong 20 năm tới được dự báo sẽ phát triển như Robinson and Haynes (1991) hay nhấn mạnh giáo dục khởi nghiệp sẽ có nhiều thay đổi dưới tác động của nền kinh tế thị trường (Solomon et al.
Cụ thể hơn, khi đánh giá về giáo dục khởi nghiệp trong nhiều năm qua, nhiều nhà nghiên cứu đồng tình rằng lĩnh vực này có nhiều bước phát triển, cụ thể là sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng (Vesper and Gartner, 1997), đa dạng, chuyên sâu hơn về hình thức dưới dạng các chương trình giáo dục doanh nhân (Gorman et al., 1997) và các khóa học (Fiet, 2001). Trong thời gian gần đây, nhiều cơ sở đào tạo trên thế giới đã đưa vào chương trình giảng dạy các modun giáo dục khởi nghiệp và triển khai một cách bài bản (Katz, 2003; Kuratko, 2005; Bulut and Sayin, 2010; Gerba, 14 2012). Các chương trình giáo dục khởi nghiệp này vừa có sự đa dạng, vừa có sự thống nhất trong mục tiêu, triết lý, phương pháp sư phạm và sản phẩm đầu ra (Rasmussen and Roger Sørheim, 2006). Nhiều nghiên cứu đã nhận diện vai trò và tác động tích cực của giáo dục khởi nghiệp đến ý định cũng như kết quả khởi nghiệp.
Bài viết về giáo dục khởi nghiệp và doanh nhân (Dainow, 1986; Gorman et al., 1997) và các chương trình doanh nhân đặc biệt (McMullan et al., 2002), các nghiên cứu của (Peterman and Kennedy, 2003; Wang and Wong, 2004; Kuratko, 2005; Pittaway and Cope, 2007) đã nhấn mạnh rằng giữa giáo dục khởi nghiệp và một loạt các yếu tố (nguồn nhân lực, vốn và kết quả kinh doanh…) có mối liên hệ mật thiết với nhau. Giáo dục khởi nghiệp giúp cho việc trang bị kiến thức, hoạch định kế hoạch trong kinh doanh và hình thành lòng tin khởi nghiệp cho sinh viên quyết đoán hơn trong khởi nghiệp kinh doanh (Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự, 2016). Khái niệm về nhận thức mong muốn khởi nghiệp Theo Stevenson & Jarillo (2007), “mong muốn” được hiểu như một sự nhận thức về cơ hội kinh doanh có thể đến trong tương lai. Gollwitzer (1993) phát biểu giai đoạn nhận thức rất quan trọng vì đây là bàn đạp tạo nên động lực cho việc khởi nghiệp.