chương 1 Sơ đồ 1.01: Phác thảo trình tự và các nội dung nghiên cứu 9 1. Tổng quan các nghiên cứu về đo lường mức độ tuân thủ đạo đức nghề nghiệp kế toán Nghiên cứu của Bulo et al. (2020) Nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện với mục tiêu là phân tích mức độ tuân thủ với quy tắc ĐĐNN kế toán. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu dựa trên bộ nguyên tắc ĐĐNN theo chuẩn mực ĐĐNN của liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC), gồm 5 tiêu chuẩn để đo lường mức độ tuân thủ ĐĐNN, cụ thể bao gồm: - Điều kiện chuyên môn: Kế toán luôn nâng cao trình độ và kỹ năng về chuyên môn, pháp luật và kỹ thuật.
- Giữ bí mật thông tin: Kế toán đã đảm giữ bí mật thông tin có được từ các dữ liệu, các mối quan hệ. - Luôn làm việc một cách khách quan: Kế toán không cho phép sự thiên vị, cảm tính hoặc bất kỳ những tác động không hợp lý nào chi phối các phán đoán chuyên môn. - Giữ gìn bộ mặt nghề nghiệp: Kế toán tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh mọi hành động vi phạm ĐĐNN làm mất uy tín nghề nghiệp của mình. - Trung thực và liêm chính: Kế toán trung thục, thẳng thắn trong tất cả các mối quan hệ.
Sau đó tiến hành khảo sát với cỡ mẫu là 242 và tất cả các kế toán viên phải đạt đầy đủ 3 điều kiện: Tất cả các kế toán được chứng nhận bởi OCAM từ 2012 đến 2017; độ tuổi từ 20 tuổi trở lên; có trình độ học vấn từ trung bình trở lên và 3 năm kinh nghiệm, sau đó thông qua phần mềm SPSS để phân tích và kết luận các kết quả đạt được. Kết quả nghiên cứu đạt được của nhóm tác giả như sau: 10 - Nữ giới tuân thủ ĐĐNN kế toán cao hơn nam giới. - Kế toán viên có thời gian hành nghề hoặc kinh nghiệm làm việc ít thì sẽ tuân thủ ĐĐNN kế toán cao hơn. - Độ tuổi tuân thủ ĐĐNN kế toán ở mức dưới 30 tuổi.
- Trình độ học vấn càng cao thì mức độ tuân thủ ĐĐNN Kế toán càng cao. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả kết luận rằng hầu hết các kế toán viên hành nghề đều chọn tuân thủ ĐĐNN kế toán. Kế toán viên đã được xác định là người chịu trách nhiệm cao nhất cho các hành vi vi phạm vì thế để giảm thiểu những tình trạng này trong xã hội, kế toán viên cần phải công khai bảo vệ và tuân thủ các nguyên tắc và giá trị đạo đức nghề nghiệp kế toán của mình. Nghiên cứu của Huterski, Voss, and Huterska (2020) Nghiên cứu được nhóm tác giả thực hiện với mục tiêu nhằm xác định mức độ tuân thủ ĐĐNN được xác định trong bộ Quy tắc ĐĐNN của nhà quản lý các đơn vị kinh tế.
Để đạt được mục tiêu đề ra, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát khoảng thời gian từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2015; khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2017 và trong khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2019 với lượng mẫu là 220 người quản lý các đơn vị kinh tế tại hai tỉnh của Ba Lan dựa trên những “quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong kế toán”, bộ quy tắc này tập hợp những nguyên tắc và giá trị đạo đức liên quan đến 5 tiêu chí, cụ thể: Chuyên môn, bí mật, khách quan, trung thực, trách nhiệm. Với kết quả nghiên cứu đạt được cho thấy khi thực tế áp dụng các chuẩn mực ĐĐNN kế toán sẽ làm phát sinh những ý kiến nghi ngờ của người quản lý các đơn vị. Chính vì vậy, vai trò của ĐĐNN cần được tích cực thực hiện thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục hoặc trực tiếp thực hiện các biện pháp bảo vệ, khẳng định việc tuân thủ vào các chuẩn mực ĐĐNN của đơn vị. Tuy nhiên, việc đưa ra các giải pháp đó đòi hỏi phải có những thay đổi về luật định hay trong cách tư duy ở mọi đơn vị kinh tế đang hoạt động trên thị trường.
11 Nghiên cứu của Uvaneswaran and Muhammed (2022) Mục tiêu nghiên cứu của nhóm tác giả được xác định là đánh giá mức độ tuân thủ của các kế toán viên công đối với các quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Để đạt được mục tiêu đề ra nhóm tác giả đã thực hiện các khảo sát được thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng bảng câu hỏi khảo sát với thang đo Likert 5 điểm từ 68 kế toán viên công và 23 kế toán viên thuế và dữ liệu thu thập được đưa vào sử dụng phầm mềm SPSS và các công cụ thống kê mô tả, đặc biệt là kiểm định độ tin cậy bằng chỉ số Cronbach’s Alpha. Kết quả nghiên cứu đạt được cho thấy, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp phải được tổng hợp dựa trên ba khía cạnh: Năng lực và sự thận trọng nghề nghiệp; tác phong nghề nghiệp và tính độc lập, khách quan theo các Chuẩn mực nghề nghiệp kế toán. Hay nói cách khác, những người hành nghề kế toán mà tuân thủ ĐĐNN kế toán là những người có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và phán xét các hành vi đạo đức một cách khách quan.
Tổng quan các nghiên cứu trước về đạo đức nghề nghiệp kế toán. Nghiên cứu của Radtke (2000) Năm 2000, Radtke đã xác định mục đích nghiên cứu là nhân tố giới tính và quyết định về mặt đạo đức của kế toán viên. Với phương pháp lấy mẫu làm cơ sở để điều tra nhận thức của kế toán viên, với 116 khảo sát được thực hiện gửi đi nhưng chỉ nhận được 55 khảo sát hoàn thành và trong đó có 4 khảo sát không thể hiện giới tính, do đó cỡ mẫu giảm xuống còn 51 quan sát được thu thập từ hai công ty kế toán tư nhân và công ty kế toán công sẽ thực hiện nghiên cứu về phản ứng đối với các tình huống nhạy cảm về mặt đạo đức. Và độ tuổi trung bình là 34 tuổi (cụ thể là 20 đối với nữ và 31 đối với nam), ngoài ra các đối tượng kế toán công chiếm số lượng lớn (20), các ngành còn lại bao gồm: công ty dầu khí (23), sản xuất (2), bảo hiểm (4) và các ngành khác.
Tác giả đã thiết kế bảng khảo sát gồm 2 phần: 12 - Phần đầu là các vấn đề liên quan đến 16 tình huống nhạy cảm về mặt ĐĐKT. Mỗi tình huống có các mức độ xử lý: có, có thể là có, không chắc chắn, có thể không và không. - Phần thứ hai là thu thập các thông tin về mặt nhân khẩu học. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng không có sự khác biệt trong việc ra quyết định về ĐĐKT của nữ giới và nam giới (hơn hai phần ba tình huống cho thấy việc ra quyết định ĐĐKT không liên quan đến giới tính).
Nghiên cứu của Maree and Radloff (2007) Tác giả thực hiện nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá các yếu tố: Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Viện Kế toán Công chứng Nam Phi, môi trường đạo đức doanh nghiệp và độ tuổi có ảnh hưởng đến việc xét đoán đạo đức của các kế toán viên hay không. Dựa trên quá trình tham chiếu các nghiên cứu trước đây, nhóm tác giả đã xác định các nhân tố thông qua bộ quy tắc ứng xử nghề nghiệp của Viện Kế toán Công chứng Nam Phi, các giá trị đạo đức doanh nghiệp (CEV) do (Hunt, Wood, & Chonko, 1989) và ngoài ra còn sử dụng nghiên cứu của Brief và Aldag (1980) để xác định độ tuổi là một nhân tố dự báo hành vi đáng chú ý. Tiếp theo, nhóm tác giả xây dựng bảng câu hỏi theo dạng thang đo Likert, và gửi qua mail cho tất cả các kế toán viên đã đăng ký với SAICA với mẫu khảo sát là 2.696, được thực hiện ở hai quốc gia đó là Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó nhóm tác giả sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha, Kaiser-Meyer-Olkin và phân tích hồi quy đa biến để kiểm tra độ tin cậy của mẫu dữ liệu.
Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đạt được cho thấy các quy tắc đạo đức có tác động tích cực ĐĐNN, giá trị đạo đức doanh nghiệp không làm ảnh hưởng đến việc phán xét đạo đức, có nghĩa rằng dù làm việc ở môi trường có đạo đức doanh nghiệp hay không thì cũng không là ảnh hưởng đến khả năng phán xét đạo đức, và nhân tố độ tuổi cho thấy mối quan hệ rõ ràng nghĩa là kế toán trẻ tuổi sẽ có lập trường vững chắc hơn. 13 Quy tắc đạo đức của SAICA Giá trị đạo đức Việc xét đoán đạo đức doanh nghiệp Độ tuổi Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc XĐĐĐ theo Maree và cộng sự (2007) Nghiên cứu của Keller et al. (2007) Tác giả nghiên cứu hướng đến mục đích tìm hiểu các nhân tố tác động có ảnh hưởng đến việc ra quyết định đạo đức của Kế toán Hoa Kỳ. Nhóm tác giả đã xác định, việc ra quyết định đạo đức Kế toán được tác động bởi: trình độ học vấn , giới tính, kinh nghiệm làm việc và tôn giáo có thể ảnh hưởng đến việc phát triển các tiêu chuẩn đạo đức của một người.
Rất nhiều nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu quan điểm đạo đức của một người liên quan như thế nào đến giới tính, trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc và niềm tin với tôn giáo. Deshpande (1997) nghiên cứu về các nhà quản lý doanh nghiệp cho thấy sự khác biệt dựa trên giới tính và kinh nghiệm làm việc. Veit and Murphy (1996) khi phân tích chứng khoán cho thấy có sự khác biệt trong hành vi đạo đức liên quan đến trình độ học vấn, giới tính và kinh nghiệm làm việc. Trong một nghiên cứu các đối tượng là sinh viên chưa tốt nghiệp đại học và sau đại học, Borkowski and Ugras (1992) đã tìm ra được các sự khác biệt khá rõ rệt liên quan đến giới tính chứ không liên quan đến kinh nghiệm làm việc.
Nhưng cũng có những nghiên cứu không cho rằng hành vi đạo đức bị ảnh hưởng bởi giới tính như (G. Một nghiên cứu khác đã phát hiện ra rằng niềm tin tôn 14 giáo cao có ảnh hưởng tích cực đến hành vi đạo đức hay nói cách khác khi niềm tin tôn giáo thấp thì có liên quan đến việc sẵn sàng tham gia vào các hành vi trái đạo đức (Kennedy & Lawton, 1996). Fort (1997) cho rằng niềm tin về tôn giáo là nền tảng thích hợp cho đạo đức kinh doanh.