CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Dự án Theo Đỗ Thị Xuân Lan (2012), dự án là một nhóm các công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định để đạt được mục tiêu đề ra, có thời điểm bắt đầu và kết thúc được ấn định trước, và sử dụng tài nguyên có giới hạn. Ngoài ra, dự án còn được định nghĩa là một nỗ lực tạm thời nhằm tạo nên một sản phẩm, dịch vụ hay kết quả (PMI, 2008). Bản chất tạm thời của dự án được xác định bởi điểm khởi đầu và kết thúc xác định của nó. Trong nghiên cứu này, dự án được xác định là nhóm các công việc nhằm tạo nên những công trình xây dựng nhà ở dân dụng riêng lẻ với thời gian bắt đầu và kết thúc được ấn định bởi hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu.2 Dự án xây dựng nhà ở dân dụng Theo Đỗ Thị Xuân Lan (2012), dự án xây dựng là tập hợp những đề xuất hay công việc có liên quan đến bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những công trình xây dựng.
Theo định nghĩa của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nguyên tắc phân loại, phân cấp công trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật đô thị thì công trình xây dựng dân dụng bao gồm các loại nhà ở, nhà và công trình công cộng (Bộ xây dựng, 2012). Trong đó, nhà ở được phân thành hai loại là nhà chung cư và nhà riêng lẻ. Trong nghiên cứu này, các dự án xây dựng nhà ở dân dụng được đề cập là các công trình xây dựng nhà ở cá nhân riêng lẻ (thông thường là các công trình xây dựng nhà ở từ 2 đến 5 tầng), có thời điểm bắt đầu và kết thúc được xác định dựa vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 kế hoạch thi công của các công ty xây dựng và nằm trong giới hạn được xác định bởi hợp đồng được ký kết giữa các công ty và khách hàng.3 Chậm tiến độ trong dự án xây dựng Một đặc tính chung của các dự án xây dựng là chúng thường biến động và thường phức tạp và đa dạng. Điều này dẫn đến một tranh cãi không có hồi kết, trong đó rất nhiều nhà nghiên cứu xem chậm tiến độ như là một điều hiển nhiên và một số cho rằng đó là hiện tượng toàn cầu ảnh hưởng đến tất cả các dạng dự án xây dựng (Sambasivan & Soon, 2007).
Xét ở một mức độ nhất định, mỗi dự án xây dựng là một công trình duy nhất – không có hai dự án nào hoàn toàn giống hệt nhau. Tiến trình xây dựng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố có sức biến đổi lớn và đôi khi không thể dự đoán được. Tất cả các phức tạp vốn có trong các công trình xây dựng khác nhau như các điều kiện về đất đai, giao thông, thời tiết, nguồn cung cấp vật tư, tiện ích, nhà thầu phụ, các điều kiện về nguồn nhân lực và công nghệ của nhà thầu là một điều tất yếu trong ngành xây dựng (S Keoki và cộng sự, 2010). Theo Chan và Kumaraswamy (1997) trích trong Ramanathan và cộng sự (2012), thông thường, một dự án xây dựng có thể chia thành 3 giai đoạn chính: giai đoạn hình thành dự án, giai đoạn thiết kế, và giai đoạn thi công, trong đó, các tác giả cho rằng việc chậm tiến độ thường xảy ra trong giai đoạn thi công.
Ramanathan và cộng sự (2012) cho rằng chậm tiến độ trong dự án xây dựng có thể được định nghĩa là sự vượt quá thời gian so với thời gian hoàn thành được xác định trong hợp đồng hay vượt quá thời gian mà các bên liên quan đã đồng ý với nhau về thời gian hoàn thành dự án. Chậm tiến độ trong dự án xây dựng xuất hiện trong tình huống vì một số lý do nào đó, có thể do chủ đầu tư, nhà thầu hay các bên liên quan khác, làm cho công việc không thể hoàn thành theo thời gian dự định. Theo Assaf và Al Hejji (2005), chậm tiến độ dự án xây dựng là một vấn đề mang tính toàn cầu, và đi kèm với chậm tiến độ dự án là các hậu quả như chi phí gia LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tăng, kiện tụng, các vấn đề về tài chính và sự mất niềm tin lẫn nhau. Theo nhiều nghiên cứu, các chậm tiến độ trong quá trình thực hiện dự án xây dựng gây nên hậu quả quan trọng là chậm tiến độ hoàn thành toàn bộ dự án bên cạnh việc gia tăng chi phí dự án và các hậu quả khác (M.Haseeb và cộng sự, 2011; Townhid và Admiruddin, 2011; Sambasivan và Soon, 2007).
Ngoài ra, theo Al Kharashi và Skitmore (2009), chậm tiến độ dự án sẽ làm cho nhà thầu bị mắc kẹt vốn, bao gồm tài chính, nhân sự và các yếu tố khác với một dự án trong thời gian dài hơn, làm cho nhà thầu giảm khả năng tham gia vào các dự án khác và có thể làm giảm doanh thu. Theodore (2009) đề xuất 4 cách cơ bản để phân loại chậm tiến độ ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án: - Chậm tiến độ nghiêm trọng và chậm tiến độ không nghiêm trọng (Critical & Non-Critical delay): Độ nghiêm trọng của chậm tiến độ được xét dựa trên chậm tiến độ có hay không ảnh hưởng đến toàn bộ tiến độ của dự án. Thực tế, có nhiều chậm tiến độ không ảnh hưởng đến đến sự hoàn thành của toàn bộ dự án hay các mốc quan trọng, các chậm tiến độ này được xem là chậm tiến độ không quan trọng. Chậm tiến độ có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ của toàn dự án được xem là chậm tiến độ nghiêm trọng.
- Chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha thứ được (Excusable & Non-execusable delay): chậm tiến độ có thể tha thứ được là chậm tiến độ do các nguyên nhân không thể dự đoán được gây ra. Thông thường, những dạng chậm tiến độ do các nguyên nhân như hỏa hoạn, động đất, thời tiết, chủ đầu tư bị thay đổi, và các nguyên nhân tương tự (không thể đoán trước và ngoài tầm kiểm soát của nhà thầu) được xem như chậm tiến độ có thể tha thứ được. Những chậm tiến độ trong tầm kiểm soát của nhà thầu và có thể dự đoán được thường được xem là chậm tiến độ không thể tha thứ. - Chậm tiến độ phải đền bù và chậm tiến độ không cần đền bù (Compensable & Non-compensable delay): chậm tiến độ phải đền bù là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 các chậm tiến độ mà nhà thầu bắt buộc phải đền bù, các chậm tiến độ này có thể là chậm tiến độ không thể tha thứ được.
- Chậm tiến độ đồng thời và chậm tiến độ không đồng thời (Concurrent & Non-concurent delay): chậm tiến độ đồng thời là các chậm tiến độ khác nhau xảy ra cùng một thời gian làm ảnh hưởng đến đường găng của dự án mà hậu quả là làm chậm tiến độ toàn dự án. Thông thường, khi chậm tiến độ đồng thời xảy ra, cả chủ đầu tư và nhà thầu đều phải chịu trách nhiệm cho chậm tiến độ này. Ngoài ra, theo Tumi và cộng sự (2009), có thể phân chia thành 2 dạng chậm tiến độ cơ bản là chậm tiến độ có thể tha thứ được và chậm tiến độ không thể tha thứ được. - Chậm tiến độ không thể tha thứ được: là dạng chậm tiến độ gây ra do nhà thầu không tuân thủ hợp đồng đã được thỏa thuận hoặc do các bên cung cấp dịch vụ cho nhà thầu gây ra chậm tiến độ.
Nhà thầu thường phải chịu trách nhiệm chính và phải đền bù khoảng thời gian chậm trễ cho chủ đầu tư. Nguyên nhân gây ra chậm tiến độ loại này có thể là do thầu phụ chậm tiến độ, nhà thầu quản lý công trình không hiệu quả, tài chính của nhà thầu không đáp ứng được yêu cầu, thiếu lao động, không đáp ứng được kế hoạch thi công đề ra và các nguyên nhân khác. - Chậm tiến độ có thể tha thứ được – được đền bù: là chậm tiến độ gây ra bởi việc hành động hay không hành động của chủ đầu tư. Khi nhà thầu gặp dạng nhân tố gây ra chậm tiến độ loại này, họ có thể kéo dài thời gian thi công hoặc được đền bù do sự chậm tiến độ vì dạng chậm tiến độ này làm nhà thầu phát sinh các chi phí thêm.
Sự chậm tiến độ này thường được gây ra bởi các tình huống không lường được và không phải là lỗi của nhà thầu. Ví dụ có thể là chậm tiến độ do kỹ sư thiết kế mà chủ đầu tư thuê không hoàn thành bản vẽ thiết kế đúng thời hạn. - Chậm tiến độ có thể tha thứ được – không đền bù: là dạng chậm tiến độ mà lỗi gây ra không do nhà thầu cũng không do chủ đầu tư, khi chậm tiến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 độ dạng này xảy ra, dự án có thể kéo dài mà không cần đền bù. Trong trường hợp này thường nhà thầu phải chịu trách nhiệm cho việc kéo dài thời gian nhưng không phải đền bù.
Nguyên nhân gây ra chậm tiến độ loại này có thể là do thời tiết bất thường, thiên tai, sự can thiệp của chính quyền.2 Các nghiên cứu trước đây về các yếu tố gây ra chậm tiến độ Có rất nhiều các nghiên cứu về các yếu tố gây ra chậm tiến độ dự án. Các nghiên cứu về các yếu tố gây chậm tiến độ cũng như các hậu quả do chậm tiến độ dự án gây nên đã được thực hiện trên rất nhiều quốc gia, có thể kể đến như USA, HongKong, Malaysia, Indonesia, Kuwait, Saudi Arabia và các quốc gia khác. Ngay tại Việt Nam, đã có nghiên cứu các yếu tố gây nên chậm tiến độ trong các dự án xây dựng lớn của Long (2008). Kumaraswany và Chan (1998) trích dẫn trong Long (2008) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố có khả năng gây chậm tiến độ đối với dự án xây dựng ở HongKong dưới góc nhìn của khách hàng, nhà thầu & chủ đầu tư.
Các tác giả đã xác định được 5 nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chậm tiến độ của dự án theo thứ tự giảm dần về độ quan trọng: Quản lý & giám sát rủi ro kém, không dự đoán được tình trạng mặt bằng chính xác, chủ đầu tư ra quyết định chậm, chủ đầu tư yêu cầu thay đổi và sự thay đổi công việc.