Phần mở đầu: Trình bày tóm lược lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn, một số điểm khác so với các nghiên cứu trước và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày tổng quan các lý thuyết về nông nghiệp, lý thuyết kỳ vọng, lý thuyết về hiệu suất theo quy mô, lý thuyết về chuỗi giá trị, khái quát mô hình “Cánh đồng lớn” về khái niệm, vai trò, đặc điểm,. Tóm lược các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mẫu điều tra và mô hình nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày tổng quát vị trí địa lý, tình hình sản xuất lúa nói chung và tình hình sản xuất lúa theo mô hình “Cánh đồng lớn” nói riêng của huyện Tịnh Biên. Thống kê, mô tả dữ liệu nghiên cứu kết hợp với kiểm định mô hình, phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến quyết định tham gia vào mô hình “Cánh đồng lớn” của người nông dân. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm lược những kết quả đạt được; đề xuất một số giải pháp và nghị cơ chế, chính sách; chỉ ra một số hạn chế của đề tài và đề xuất những vấn đề tiếp tục nghiên cứu. Hướng dẫn khoa học: PGS.
Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Trần Văn Trí 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC Cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trước là nền tảng vững chắc của mọi nghiên cứu, cũng là nơi giúp hình thành ý tưởng nghiên cứu và phát triển ý tưởng đó. Chương 2 này trình bày các vấn đề liên quan đến các lý thuyết cơ bản về nông nghiệp, về “Cánh đồng lớn” cũng như những nghiên cứu trước có liên quan, qua đó làm nền tảng giúp phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế địa phương. Nông nghiệp, nông thôn, hộ, nông hộ và kinh tế hộ 2. Khái quát chung về nông nghiệp Theo Đại học kinh tế quốc dân (2002), nông nghiệp là ngành sản xuất gắn với sinh vật (cây trồng, vật nuôi), bị chi phối bởi quy luật sinh học, các điều kiện ngoại cảnh (đất đai, thời tiết - khí hậu) và là ngành sản xuất ra sản phẩm tất yếu để xã hội tồn tại và phát triển.
Theo Niên giám nông nghiệp - Thực phẩm (2008), nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc. Công việc nông nghiệp cũng được biết đến bởi những người nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh tìm cách cải tiến phương pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Vị trí, vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Theo Đại học kinh tế quốc dân (2002), nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết, đó là lương thực, thực phẩm. Ngoài ra, nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị.
Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Theo Đại học kinh tế quốc dân (2002), sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có, đó là: Sản xuất nông nghiệp Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Trần Văn Trí 8 được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt; Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được; Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định; Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao.4 Khái niệm vê nông thôn, hộ, nông hộ và kinh tế hộ Theo Phan Văn Thạng (2008), nông thôn là một hình thức cư trú mang tính không gian, lãnh thổ, xã hội của con người, nơi sinh sống của những người chủ yếu làm nghề nông và những nghề khác có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất nông nghiệp. Hộ gia đình là khái niệm để chỉ hình thức tồn tại của kiểu xã hội lấy gia đình làm nền tảng. Nông hộ là gia đình sống bằng nghề nông.
Theo Ellis (1993), kinh tế hộ nông dân có thể tóm tắt như sau: “Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình, sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường”. Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo Lê Đình Thắng (1993): “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiêp ở nông thôn”.
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 thì: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng…) và thông thường nguồn sống chính của họ dựa vào nông nghiệp”. Cơ sở lý thuyết về cánh đồng lớn 2. Khái niệm Cánh đồng lớn Theo Vũ Trọng Bình và Đặng Đức Chiến (2011), Cánh đồng lớn là những cánh đồng có thể có một hoặc nhiều chủ, nhưng có cùng quy trình sản xuất, cùng kế Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Trần Văn Trí 9 hoạch tiêu thụ sản phẩm, cung ứng đồng đều và ổn định về số lượng và chất lượng theo yêu cầu thị trường dưới một thương hiệu nhất định.
Theo Tăng Minh Lộc (2012), cụm từ “cánh đồng lớn” lần đầu tiên xuất hiện ở tỉnh An Giang, là tên gọi cánh đồng lúa được nông dân trồng một loại giống xác nhận. Nông dân được doanh nghiệp cung cấp giống, hướng dẫn kĩ thuật canh tác. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vận chuyển sản phẩm đến nhà máy, sấy khô và bao tiêu. Quy trình sản xuất này đã cho năng suất và lợi nhuận cao hơn so với canh tác trên đồng nhỏ.
Đặc điểm của Cánh đồng lớn Theo Đỗ Kim Chung (2012), Cánh đồng lớn có những đặc điểm cơ bản sau đây: Là cánh đồng trồng cây hàng năm như lúa, rau, màu; Diện tích trồng cây trồng đó trên cánh đồng phải “lớn”, diện tích cánh đồng từ vài ba chục đến hàng trăm hecta; Cánh đồng có thể có một hay nhiều hộ canh tác; Cánh đồng sản xuất cùng một (hoặc hai) loại giống cây trồng dùng để phù hợp với nhu cầu thị trường, thường là giống xác nhận cấp 1 hoặc cấp 2. Có sự liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân.Vai trò của cánh đồng lớn Theo Đỗ Kim Chung (2012), về lý luận, cánh đồng lớn tuân theo nguyên lý “kinh tế của quy mô” của sản xuất nông nghiệp. Cánh đồng lớn có vai trò quan trọng cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa, cụ thể như sau: Gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và tiêu thụ, gắn sản xuất với thị trường. Sản xuất trên quy mô thể hiện sự liên kết giữa người chế biến và tiêu thụ sản phầm.
Do sản xuất theo quy mô lớn, nên tạo điều kiện ứng dụng được quy trình sản xuất tiên tiến để tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tạo điều kiện cho nông dân tiết kiệm được chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất. Do ưu thế kinh tế của quy mô, sản xuất trên quy mô lớn, với sự ứng dụng của công nghệ tiên tiến, nông dân có cơ hội tiết kiệm được chi phí (giống, Hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Minh Hà Thực hiện nghiên cứu: Trần Văn Trí 10 nhiên liệu, chi phí làm đất, thủy lợi, bảo vệ thực vật, gặt đập và phơi sấy), trên cơ sở đó nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
Giúp nông dân sản xuất nhỏ liên kết lại, hình thành kinh tế hợp tác để nâng cao năng lực cạnh tranh của nông dân sản xuất nhỏ. Tiêu chí xây dựng mô hình “Cánh đồng lớn” Cục trồng trọt (2012), mô hình “Cánh đồng lớn” phải nằm trong quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động của địa phương, có điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn…) phù hợp, hạ tầng kinh tế xã hội (hệ thống thủy lợi, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, trình độ, tập quán canh tác của nông dân) tương đối tốt. Tiêu chí xây dựng mô hình “Cánh đồng lớn” như sau: 2. Quy mô diện tích Mô hình “Cánh đồng lớn” có diện tích từ 300-500 ha.
Mở rộng quy mô diện tích từ 300-500 ha cho mô hình “Cánh đồng lớn” nhằm mục đích: (1) Quy mô vừa để có vùng điển hình cho các doanh nghiệp đầu tư đầu vào, thu mua lúa, gạo; (2) Tổ chức sản xuất với quy mô vừa, rút kinh nghiệm để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu với quy mô lớn có thể đến 10.000 ha; (3) Quy mô vừa điều kiện canh tác của địa phương, tổ chức ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng loạt; (4) Định hướng cho việc xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội trước mắt và lâu dài. Yêu cầu của mô hình “Cánh đồng lớn” Cục trồng trọt (2012), các yêu cầu của mô hình “Cánh đồng lớn” như sau: a. Về điều kiện tự nhiên: Diện tích thực hiện mô hình phải có hệ thống đê bao, hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh, an toàn, chủ động hoàn toàn về thủy lợi bao gồm cả việc tưới và tiêu thoát nước. Vị trí địa lý thuận tiện cho việc tổ chức sản xuất và thu mua.
Về điều kiện kinh tế - xã hội: Nông dân tự nguyện tham gia, đảm bảo quyền lợi cho nông dân, nông dân phải hoàn toàn tự giác và chủ động trong thực hiện mô hình.