CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1. Tổng quan về hình thức học tập trực tuyến Những tiến bộ vượt bậc trong phát triển khoa học công nghệ đã mang đến nhiều trải nghiệm mới, đầy hữu ích cho người dùng Internet trên toàn cầu, được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau, đặc biệt trong số đó là lĩnh vực giáo dục - đào tạo với mô hình học tập trực tuyến (Nguyễn Văn Cảnh & Phạm Văn Tặc, 2022; Trần Yến Nhi, 2021; Al-Fraihat et al. Hình thức học tập trực tuyến đã giúp mở ra những bước tiến mới trong nền giáo dục hiện đại của nhân loại và được nhận định là xu thế tất yếu trong tương lai của nền kinh tế tri thức (Đinh Thị Hồng Gấm, 2022; Yu, 2022; Al- Fraihat et al.
Trong khi nhiều nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản… đã ứng dụng và phát triển mạnh mẽ hình thức này suốt một thời gian dài và đạt được nhiều lợi ích nhất định cho nền giáo dục (Đinh Thị Hồng Gấm, 2022; Trần Yến Nhi, 2021) thì học tập trực tuyến lại không nhận được nhiều sự quan tâm từ các cơ sở đào tạo, người học và giới học giả tại Việt Nam trong nhiều năm (Maheshwari, 2021). Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã thúc đẩy ứng dụng học tập trực tuyến từ năm 2006 (Đinh Thị Hồng Gấm, 2022) nhưng bước ngoặt chỉ xảy đến khi cơn đại dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus Corona (nCoV) gây ra – gọi tắt là đại dịch Covid-19, xuất hiện tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc từ cuối năm 2019 sau đó lây lan ra toàn cầu. Sự càn quét của đại dịch Covid-19 đã tạo nên những làn sóng thay đổi to lớn ở lĩnh vực giáo dục, khiến hơn 1.5 tỷ học sinh, sinh viên và 63 triệu trường học trên thế giới phải nhanh chóng chuyển đổi hình thức đào tạo truyền thống sang trực tuyến nhằm bảo vệ sức khoẻ cho người dạy và người học, hạn chế tối đa sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng (Valverde-Berrocoso et al. Tất cả những quốc gia hứng chịu tác động của đại dịch, như Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ khi bùng phát dịch lần đầu vào tháng 1 năm 2020, đều phải bất đắc dĩ thử nghiệm mô hình giảng dạy trực tuyến quy mô lớn bởi các đợt giãn cách xã hội và phong tỏa trên phạm vi toàn tỉnh, toàn thành phố hay thậm chí là toàn quốc (Thach et al.
Các cơ sở giáo 1 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 dục, các trường phổ thông và đại học ở Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng không có lựa chọn nào khác ngoài việc nhanh chóng triển khai các kế hoạch học tập trực tuyến (Maheshwari, 2021) để có thể vừa đảm bảo tiến độ học tập cho người học, vừa có thể ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2020). Trước bối cảnh trên, hình thức học tập trực tuyến tại Việt Nam đã nhanh chóng đạt được những bước tiến mạnh mẽ (Trần Yến Nhi, 2021), thể hiện rõ nét những lợi ích mà mô hình này có thể mang lại cho người học, đặc biệt tạo thêm nhiều cơ hội cho các cơ sở, đơn vị giáo dục quy mô nhỏ và cho các cá nhân đang tham gia hoạt động dạy học tại nhà (Yuhanna et al. Cụ thể, học tập trực tuyến mang đến tính linh hoạt rất cao về không gian và thời gian (Yu, 2022; Nguyễn Văn Cảnh & Phạm Văn Tặc, 2022; Trần Yến Nhi, 2021; Yuhanna et al. Với ưu điểm chính của công nghệ Internet là khả năng lưu trữ và điều hướng, một lượng dữ liệu nội dung kiến thức khổng lồ, phong phú về tất cả các chủ đề và đa dạng về hình thức như văn bản, hình ảnh, hoạt ảnh, âm thanh hay video.
được đăng tải và cập nhật gần như là liên tục, hàng ngày, hàng giờ dù là trong phạm vi một cộng đồng nhỏ hay quốc tế (Yu, 2022; Nguyễn Văn Cảnh & Phạm Văn Tặc, 2022; Trần Yến Nhi, 2021; Yuhanna et al., 2020; Yuhanna et al. Người học hầu như có thể tiếp cận, sử dụng và thậm chí là tham gia đóng góp vào nguồn tài nguyên này ở bất kỳ địa điểm nào, vào bất kỳ khoảng thời gian nào trong ngày chỉ với một vài thiết bị điện tử đã được kết nối mạng (Yuhanna et al. Hơn thế nữa, người học còn có thể tương tác với những người hướng dẫn hoặc với những người học khác dù là ở bên kia bán cầu Trái Đất bằng nhiều phần mềm học trực tuyến như Zoom, Google Classroom, Microsoft Teams. hay bằng email, các trang mạng xã hội, website và các diễn đàn trực tuyến.
Những ý kiến trao đổi và phản hồi có thể được thực hiện vào bất cứ thời điểm nào mà họ cảm thấy thuận tiện (Yuhanna et al., 2020; Cidral et al. Ứng dụng những thành tựu phát triển khoa học công nghệ thông tin và truyền thông vào giáo dục đã góp phần không nhỏ vào quá trình toàn cầu hóa và đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người học (Nguyễn Văn Cảnh & Phạm Văn Tặc, 2022; Cidral et al. Ngoài ra, hiệu quả chi phí đầu tư cho công nghệ trong lĩnh vực giáo dục sẽ được thể hiện qua thời gian triển khai 2 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 (Yuhanna et al. Về lâu dài, học tập trực tuyến sẽ giúp tiết kiệm đáng kể chi phí và thời gian cho cả người học và cả các cơ sở, đơn vị cung cấp dịch vụ giáo dục – đào tạo (Nguyễn Văn Cảnh & Phạm Văn Tặc, 2022; Cidral et al., 2020, Yuhanna et al.
Mô hình giáo dục trực tuyến đã mang lại giá trị kinh tế lớn cho cả các trường đại học và loại hình đơn vị giáo dục khác (Statista, 2023), được hiện qua sự phát triển doanh thu của thị trường giáo dục trực tuyến tại Việt Nam trong những năm gần qua. Theo Statista (2023), trong ba năm 2017 đến 2019, giá trị thị trường giáo dục trực tuyến tại Việt Nam đạt mức tăng trưởng khoảng 32% từ 116 triệu USD lên 153 triệu USD. Và trong ba năm bùng phát đại dịch từ 2020 đến 2022, con số này đã tăng vượt bậc từ 202 triệu USD lên 284 triệu USD (tương ứng với mức tăng trưởng 86%). Dự báo giá trị thị trường sẽ đạt 328 triệu USD vào cuối năm 2023 và tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo.
Dù đại dịch Covid-19 đã có dấu hiệu hạ nhiệt tại phần lớn các quốc gia trên thế giới nhưng trước bài học về sự bùng phát và tấn công của nhiều loại virus như SARS, MERS-CoV và Ebola. trong nhiều thập kỷ qua (A Train Education, 2020), Việt Nam vẫn cần phải thiết lập công tác chuẩn bị tốt hơn để có thể đối mặt với những rủi ro tiềm tàng trong tương lai, cũng như tận dụng tối đa giá trị lợi ích của hình thức trực tuyến có thể mang lại (Maheshwari, 2021). Khi mà đại dịch hạ nhiệt, nhịp sống, sinh hoạt và hoạt động học tập trở về bình thường thì cũng là lúc sự cạnh tranh tăng lên, biến mô hình giáo dục trực tuyến trở thành chìa khóa giúp mở ra cánh cửa cơ hội cho những cá nhân, đơn vị giáo dục nào có thể sớm tận dụng chúng thành lợi thế để thu hút người học. Nhưng cơ hội thì luôn đi đôi với thách thức, áp dụng thành công một hệ thống học tập trực tuyến là một nhiệm vụ không hề dễ dàng.
Trên thực tế, khi Covid-19 bùng phát tại Việt Nam, nhiều người học chưa kịp thích ứng và chưa chuẩn bị tâm lý sẵn sàng để tham gia vào công cuộc chuyển đổi sang học trực tuyến hoàn toàn (Đinh Thị Hồng Gấm, 2022). Điều này đã gây nên những khó khăn nhất định trong quá trình triển khai các hệ thống học tập trực tuyến như là: sự chấp nhận và sự hài lòng của người học đối với hình thức này còn thấp; trung bình hiệu quả và thành tích học tập của người học trong ngắn hạn bị giảm đi đáng kể (Pham & Tran, 2018; Nguyễn Lê Hoàng Thị Tố Quyên và cộng sự, 2021). Chính vì vậy, với việc lấy người học làm trung tâm của quá trình 3 Downloaded by MAI ??I CÁT (maingoc0911.com) lOMoARcPSD|18351890 học tập, làm sao để nâng cao sự hài lòng và chấp nhận của họ đối với hình thức trực tuyến vừa là một mục tiêu quan trọng đang nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước (Baber, 2020), vừa là động lực để thực hiện các nghiên cứu làm cơ sở đầu tư, phát triển, cải tiến phù hợp, toàn diện cho giáo dục trực tuyến trong tương lai (Thach et al. Lý do chọn đề tài “ ” Khác với các nước đã phát triển, hệ thống học tập trực tuyến được áp dụng tương đối muộn, thiếu tính tương tác và nhận được ít sự quan tâm tại các nước đang phát triển, điển hình như Việt Nam (Pham & Huynh, 2017).
Nhiều người học và các cơ sở giáo dục và đào tạo vốn xem hình thức trực tuyến chỉ đơn giản như một cách thức để lưu trữ tài liệu học tập, dẫn đến thiếu sự đầu tư về cơ sở hạ tầng, coi nhẹ hoặc bỏ qua yếu tố tương tác và hỗ trợ, cũng như trung bình trình độ tin học của người dạy và học còn thấp (Pham & Huynh, 2017). Điều này dẫn đến những rào cản ở cả yếu tố khách quan và cảm nhận chủ quan của người học làm giảm khả năng chấp nhận sử dụng và sự hài lòng của họ đối với hình thức học tập trực tuyến (Pham & Tran, 2018; Oanh & Thuy, 2020). Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm nâng cao trải nghiệm, thúc đẩy sự hài lòng của người học nhưng phần lớn đều được thực hiện ở nước ngoài, trong khi nghiên cứu tại Việt Nam nói chung và tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chỉ mới khởi sắc trong thời gian ngắn trở lại đây và vẫn còn khá ít (Đinh Thị Hồng Gấm, 2022). Để hướng đến mục tiêu kể trên, các nghiên cứu tập trung vào ứng dụng các mô hình lý thuyết về hành vi và sự hài lòng của người tiêu dùng, đặc biệt là các lý thuyết liên quan đến hành vi và thái độ với sản phẩm/dịch vụ công nghệ, cụ thể là hệ thống thông tin ứng dụng trong dạy học trực tuyến.
Các khía cạnh quan trọng được quan tâm gồm chất lượng của hệ thống, chất lượng nội dung thông tin, chất lượng dịch vụ và các yếu tố tác động từ bên ngoài đến người học đã được nghiên cứu trong bối cảnh học tập trực tuyến tại Thành phố Hồ Chí Minh.