Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Đánh giá chung về tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong thời gian qua Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết quả nghiên cứu Chương 6: Kết luận và khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm liên quan 2.1 Khái niệm về sự hài lòng Có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng của nhà đầu tư (khách hàng), nhưng nhìn chung khái niệm về sự hài lòng của nhà đầu tư (khách hàng) là về tình cảm và thái độ của chính quyền địa phương nơi cung cấp các dịch vụ công (người cung cấp dịch vụ), sự mong đợi của các nhà đầu tư là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng đối với chính quyền địa phương nơi cung cấp dịch vụ công, các kết quả và giá trị dịch vụ mang lại, nó góp phần quan trọng trong việc quyết định có đầu tư hay tiếp tục đầu tư ở địa phương đó hay không. Theo Oliver (1999) và Zineldin (2000), cho rằng sự hài lòng của nhà đầu tư (khách hàng) là sự phản hồi về tình cảm hay toàn bộ cảm nhận của họ đối với địa phương mà nơi đó cung cấp dịch vụ công trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa những gì họ nhận đuợc với sự mong đợi của họ. Theo Kotler (2003), sự hài lòng là cảm giác vui mừng hay thất vọng của một người bắt nguồn từ sự mong đợi về chất lượng phục vụ của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nào đó. Cũng theo Kotler và Keller (2006), sự thỏa mãn là mức độ cảm giác của một người bắt nguồn từ sự nhận thức về một sản phẩm hay một dịch vụ so với sự mong đợi của người đó, nó thể hiện ở 03 cấp độ thỏa mãn sau: (1) Nếu nhận thức của khách hàng mà nhỏ hơn sự mong đợi thì khách hàng cảm nhận là không thỏa mãn; (2) Nếu nhận thức của khách hàng bằng mong đợi thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn; (3) Nếu nhận thức của khách hàng lớn hơn mong đợi thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc vui mừng.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Khái niệm: Theo Dunning, John H (1977), một doanh nghiệp chỉ đầu tư trực tiếp nước ngoài khi hội đủ ba điều kiện sau: 1) doanh nghiệp phải sở hữu một số lợi thế so với doanh nghiệp khác như quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của doanh nghiệp; 2) nội vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ doanh nghiệp có lợi hơn là bán hay cho các doanh nghiệp khác thuê; và 3) sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu.
Lợi thế địa điểm có thể có được nhờ các nguồn như: tài nguyên thiên nhiên, lao động, các rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho doanh nghiệp khi hoạt động tại đó. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Đối với quyền quản lý doanh nghiệp FDI, theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996) có thể thực hiện bằng nhiều cách như thành lập hoặc mở rộng doanh nghiệp hoặc chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm). Để có quyền kiểm soát nhà đầu tư cần nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
- Đặc điểm: Về kinh tế: Khi một nước thu hút đầu tư nước ngoài nghĩa là nước đó tiếp nhận nguồn vốn, cùng với đó là kỹ thuật và công nghệ, những bí quyết kinh doanh và cả năng lực tiếp thị. Khi nhà đầu tư bỏ vốn vào đầu tư là họ tiến hành sản xuất kinh doanh và sản phẩm họ làm ra được tiêu thụ ở thị trường trong nước hoặc thị trường nước ngoài. Việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể phát sinh nợ cho nước nhận đầu tư hoặc sẽ nhận được phần lợi nhuận tương đối lớn khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả, mặt khác nước nhận đầu tư còn có điều kiện để phát triển tiềm năng trong nước. Tuy nhiên, đôi khi lợi ích của nhà đầu tư lớn hơn lơi ích của nước nhận đầu tư, vì để thu hút được các nhà đầu tư vào đầu tư thì bản thân nước nhận đầu tư phải có một số chính sách ưu đãi nhất định; cũng có một vài trường hợp nhà đầu tư họ nâng chi phí nhập nguyên vật liệu lên cao.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Về mặt pháp lý: Tùy theo quy định về đầu tư của mỗi nước mà nhà đầu tư phải bỏ ra một số vốn góp nhất định. - Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài: Tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế: đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn vốn bổ sung quan trọng để các nước đang phát triển tiến hành CNH - HĐH đất nước. Nhằm bù đắp cho nguồn vốn trong nước đang thiếu hụt. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong hình thức huy động vốn tối ưu để hỗ trợ cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, nó còn bổ sung nguồn thu ngân sách cho chính phủ các nước đang phát triển.
Tạo công ăn việc làm cho người dân và nâng cao chất lượng lao động: các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút một lượng lớn lao động, góp phần giải việc làm cho người lao động, gảm thất nghiệp. Ngoài ra, nó còn góp phần phát triển nguồn nhân lực, đào tạo, nâng cao tay nghề, kỹ năng quản lý, kinh doanh cho nước nhận đầu tư. Đồng thời, học hỏi những kinh nghiệm, quản lý và điều hành của các nước phát triển, cũng như tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ mà nhà đầu tư đưa vào. Nâng cao năng lực công nghệ: thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận những công nghệ mới, kỹ năng sản xuất mới.
Qua đó có thể thúc đẩy sự đổi mới kỹ thuật của nước nhận đầu tư như góp phần tăng năng suất của các yếu tố sản xuất, thay đổi cấu thành sản phẩm và xuất khẩu. Việc chuyển giao công nghệ từ các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó nâng cao năng lực, trình độ của nước nhận đầu tư. Tuy nhiên, có một số trường hợp như không chuyển giao đúng quy định. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế: đầu tư trực tiếp nước ngoài là động lực mạnh mẽ có ý nghĩa to lớn tới sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, thông qua đó các nước đang phát triển sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động.
Trong chuyển dịch cơ cấu đôi khi các nhà đầu tư nước ngoài sản xuất và bán những sản phẩm có hại đến sức khỏe của người tiêu dùng trong nước và thậm chí gây ô nhiểm môi trường nghiêm trọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Có 3 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: Hình thức doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do bên đầu tư và bên nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và cùng chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp, mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia và với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần vốn góp của mình trong vốn pháp định. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước nhận đầu tư, tự quản lý và chịu trách nhiệm với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo pháp luật của nước nhận đầu tư.
Một số hình thức như: hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT). Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: là loại hình đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia.3 Khái niệm về Nhà đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2014: "Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài". "Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam".2 Tổng quan các nghiên cứu trước 2.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Lale Berkoz& Sevkiye Sence Turk (2004) đã sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn địa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 điểm đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vào Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm: sự phát triển dân số, cơ sở hạ tầng, phát triển tín dụng ngân hàng và thị trường nơi đó phát triển.
Ho (2004) nghiên cứu để tìm ra các yếu tố trong đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Trung Quốc, trường hợp phân tích một ngành.