Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Ở chương này trình bày lý do lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và cấu trúc nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu: Trình bày các lý thuyết nền tảng và mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, tìm hiểu mối quan hệ lý thuyết giữa các thành phần này. Đồng thời trình bày tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước.
Nghiên cứu đưa ra các biến có ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ tập luyện công nghệ EMS Training, mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu từ nghiên cứu lý thuyết cho thấy sự tác động của các biến đến sự hài lòng của khách hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Ở chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, nghiên cứu định lượng bằng phương pháp khảo sát với quy mô mẫu định sẵn và các bước phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Đưa ra kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến và phân tích mạng lưới thần kinh nhân tạo (ANN). Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị: Chương này đưa ra các kết quả tổng quan về nghiên cứu sau khi phân tích thực nghiệm.
Từ đó các khuyến nghị cũng được đưa ra đối với các bên liên quan. Và cuối cùng, đề xuất các hàm ý quản trị đối với từng nhân tố nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tập luyện công nghệ EMS Training của công ty Cổ Phần 25 FIT. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu chính trong mô hình 2.
Khái niệm về dịch vụ Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 Luật giá 2012, dịch vụ là hàng hóa mang tính vô hình, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng không hề tách rời nhau, bao gồm những loại dịch vụ trong hệ thống các ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Theo Từ điển Tiếng Việt (2004), dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công và là một thuật ngữ phổ biến trong lĩnh vực marketing và kinh doanh. Theo Zeithaml và Bitner (2000), dịch vụ được định nghĩa là những hành vi, quy trình và phương pháp thực hiện một nhiệm vụ nhất định nhằm tạo ra giá trị sử dụng, đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng. Trong khi đó, Gronroos (1984) đã phát biểu rằng: Dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động có tính vô hình, nhưng không nhất thiết diễn ra trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên dịch vụ, cũng như các nguồn lực vật chất hoặc hàng hóa, hoặc hệ thống cung ứng dịch vụ, được cung cấp như các giải pháp để giải quyết vấn đề của khách hàng.
Theo Kotler và cộng sự (2006), dịch vụ là tất cả mọi lợi ích hay hoạt động mà một bên cung cấp cho bên khác mà không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu của vật chất. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả, về sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào. Dịch vụ là việc thực hiện cam kết mà công ty đã đưa ra, nhằm xây dựng và củng cố mối quan hệ đối tác lâu dài với khách hàng và thị trường. Dịch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng thấy rằng công ty đã đáp ứng các cam kết một cách rõ ràng và mang lại giá trị gia tăng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong cùng lĩnh vực.
Qua các khái niệm này, chúng ta thấy rằng dịch vụ là một hình thức cung cấp giá trị hoặc lợi ích cho người khác thông qua việc cung cấp các hoạt động, nhiệm vụ hoặc trải nghiệm. Nó thường liên quan đến việc cung cấp sự phục vụ, hỗ trợ hoặc giải quyết các nhu cầu, mong muốn, vấn đề hoặc thách thức của khách hàng. Dịch vụ có thể được cung cấp trong nhiều lĩnh vực, bao gồm ngân hàng, giáo dục, du lịch, y tế, công nghệ 5 thông tin, vận chuyển, quản lý tài sản, bảo vệ, và nhiều lĩnh vực khác. Mục đích của dịch vụ là đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mang lại sự tiện lợi, hài lòng và giá trị gia tăng.
Khái niệm về công nghệ EMS Training Theo Maffiuletti và cộng sự (2011), EMS Training là một phương pháp kích thích cơ bằng xung điện. Các xung điện được tạo ra bởi bộ điều chỉnh của máy kích thích cơ và được truyền qua các điện cực đến bề mặt da gần các cơ bắp cần được kích thích. Thông thường, các điện cực được dán vào da hoặc đặt trong các túi đặc biệt trên quần áo. Các xung điện này mô phỏng điện thế hoạt động của hệ thần kinh trung ương, gây ra sự co bóp của các cơ bắp.
Kỹ thuật kích thích cơ điện (EMS) thường được sử dụng để phục hồi cơ bắp ở những người bị tê liệt một phần hoặc hoàn toàn, để rèn luyện sức mạnh và phục hồi ở vận động viên và người có sức khỏe tốt, cũng như để đánh giá tình trạng cơ bắp. Ahmad và Hasbullah (2015), EMS có thể được gọi là việc áp dụng dòng điện qua da vào cơ thông qua các điện cực để tạo ra các cơn co thắt không tự nguyện đã gợi lên hoạt động co bóp bằng cách đưa dòng điện vào hệ thống thần kinh cơ đã được biết đến ít nhất từ thế kỷ 18. Thông thường, hệ thống giác quan của con người sẽ gửi kích thích điện từ não đến các dây thần kinh để kiểm soát hoạt động cơ bắp của chúng ta. EMS sử dụng quy tắc đặc trưng này và có khả năng nâng cao quy trình này để tiếp cận lớp cơ sâu hơn, điều mà rất khó thực hiện thông qua các bài tập thể dục thông thường.
Người ta không nhận ra rằng EMS đã tồn tại ở các thế hệ trước từ lâu. Vào thời đó, EMS chủ yếu được sử dụng như một phần của phương pháp để điều trị và phục hồi tình trạng suy nhược cơ hoặc mất khả năng vận động. Ngoài ra, còn chống lại tình trạng mất khả năng kích thích cơ và teo cơ do không sử dụng hay hoạt động. Theo Knibbe và cộng sự (2018), kích thích cơ bằng điện (EMS) đã trở thành một mô hình đầu ra trong giao diện người dùng dựa trên cơ thể.
Ý tưởng chính là sử dụng các xung điện từ một thiết bị được gắn vào cơ thể người dùng để kích thích cơ bắp và từ đó cử động chân tay của họ. Karatzanos và cộng sự (2012) cho biết kích thích cơ điện (EMS) là một hình thức tập luyện và vận động không cần sự tham gia tích cực và có thể áp dụng cho những đối tượng bất động. EMS đã được chứng minh là có lợi ở những bệnh nhân bị suy tim mạn tính và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.1: Buổi họp báo nâng cấp công nghệ EMS Training mới tại Việt Nam Nguồn: Website công ty Cổ phần 25 FIT Hình 2.2: Quá trình tập luyện EMS Training tại studio 25 FIT Nguồn: Website công ty Cổ phần 25 FIT 7 Qua những khái niệm nêu trên, ta hiểu được việc tập luyện EMS (Electrical Muscle Stimulation) là một phương pháp tập luyện sử dụng kích thích cơ bằng điện. Trong tập luyện EMS, người tập sẽ đeo một bộ điện cực được gắn vào các vị trí cơ bắp trên cơ thể.
Bộ điều khiển sẽ gửi các xung điện điện tử thông qua điện cực, kích thích cơ bằng điện từ EMS làm tăng sự co bóp và hoạt động của cơ bắp, giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, tăng cường sự phục hồi sau tập luyện và cải thiện sự săn chắc của cơ bắp. Sự khác nhau giữa công nghệ EMS Training và Gym truyền thống Hiện nay, việc lựa chọn một phương pháp tập luyện phù hợp để mang lại hiệu quả đáng kể đang là vấn để quan tâm hàng đầu của nhiều cá nhân. Trước khi quyết định chọn phương pháp nào, người tập luyện cần tìm hiểu và xem xét liệu phương pháp đó đã phù hợp hay chưa. EMS Training và tập gym là hai phương pháp tập luyện phổ biến trên thế giới giúp đạt được cơ thể săn chắc, cân đối và có sức khỏe tốt nhưng hai phương pháp này hoàn toàn có sự khác biệt tùy vào mục tiêu tập luyện và tình trạng cơ thể những cá nhân tham gia tập luyện sẽ lựa chọn phương pháp tập luyện phù hợp với họ.1: Bảng so sánh sự khác nhau giữa Công nghệ EMS Training và Gym truyền thống Tiêu chí EMS Training Gym truyền thống EMS Training (Electrical Muscle Tập gym là phương pháp luyện Stimulation) là phương pháp luyện tập với các máy móc và tạ thực tập bằng cách sử dụng xung điện để hiện các bài tập thể hình truyền kích thích cơ bắp hoạt động với thống, bao gồm: xây dựng cơ Định nghĩa cường độ cao hơn, các dòng xung bắp, tăng cường sức khỏe tim điện nhỏ truyền trực tiếp vào các cơ mạch và sức bền.
bắp nhờ vào cực dán lên da làm giãn cơ và co bóp nhịp nhàng và có mục đích. Tập EMS Training cho phép nhiều Tập Gym có thể đạt được hiệu Hiệu quả nhóm cơ hoạt động cùng một lúc và quả cao trong việc giảm cân nặng kích thích cơ bắp bằng điện cực giúp và cải thiện cơ bắp và mỗi động 8 tăng cường sức mạnh và phát triển tác sẽ tác động được 1-2 nhóm cơ cơ. Hiệu quả tập EMS có thể đạt cụ thể tương đương 25% nhóm được như gym truyền thống nhưng cơ trên cơ thể. Do đó, người tập thời gian ngắn hơn và phổ biến ở khá vất vả để đạt được mục tiêu nhiều phòng tập nhờ hiệu quả vượt ban đầu, việc tập chủ yếu ở các trội thông qua việc tăng cơ giảm mỡ, nhóm cơ cụ thể mà bỏ qua nhóm ngoài ra còn là bộ môn giúp cải thiện cơ cần thiết khiến thân hình phát đau cổ vai gáy, đau cột sống và cải triển không cân đối là điều thiện các vùng da chảy xệ và da thường thấy ở người tập gym nhão.