Chương 1 trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu thông qua lý do thực hiện đề tài, tổng quan nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tổng quan, ý nghĩa đề tài và cấu trúc luận văn. Những nội dung này sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu chi tiết hơn về cơ sở lý thuyết liên quan và mô hình nghiên cứu trong chương tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 2. Các khái niệm liên quan 2.
Sự hài lòng khách hàng Theo Kotler (2002), sự thỏa mãn hay hài lòng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm hay dịch vụ với những kỳ vọng của người đó. Theo Tse và Wilson (1988), thỏa mãn của khách hàng là sự phản ứng của người tiêu dùng với việc ước lượng sự khác nhau giữa những mong muốn trước đó và sự thể hiện thực sự của sản phẩm hay dịch vụ như là một sự chấp nhận khi dùng nó. Thông qua các kỳ vọng của khách hàng về giá trị, một tổ chức tạo sự thỏa mãn của khách hàng. Thỏa mãn của khách hàng có thể được định nghĩa là trạng thái mà khách hàng cảm nhận rằng những sản phẩm và dịch vụ của tổ chức đáp ứng được hoặc hơn những kỳ vọng của khách hàng và sự thỏa mãn tất cả nhu cầu của khách hàng.
Theo Oliver (1999), thỏa mãn của khách hàng là sự đáp ứng mang lại cho khách hàng cảm giác thích thú. Theo Bachelet (1995), thỏa mãn của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về sự thỏa mãn của khách hàng, nó tùy thuộc vào sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ mà tổ chức, doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng và mối quan hệ giữa tổ chức và các cá nhân đưa ra nhận định. Từ các định nghĩa về sự hài lòng trên tác giả đưa ra nhận định về sự hài lòng của dân cư sinh sống tại các chung cư như sau: Sự hài lòng của các cư dân tại các chung cư là trạng thái cảm giác của họ bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ các sản phẩm thực tế được cung cấp tại chung cư với những kỳ vọng của người đó.
Khi việc cung cấp các sản phẩm tại 11 chung cư lớn hơn kỳ vọng trước đó thì họ sẽ cảm thấy hài lòng và ngược lại thì không hài lòng. Vậy có thể kết luận rằng sự hài lòng hay sự thỏa mãn của một cá nhân với một đối tượng, một sự việc chỉ có được khi chúng đáp ứng những kỳ vọng của cá nhân đó. Khi đáp ứng được các kỳ vọng của các cá nhân thì chắc chắn rằng sự hài lòng về các đối tượng hay sự việc đó sẽ tăng cao. Đây là mối quan hệ tương hỗ.
Chung cư Theo khoản 3, điều 3, Luật Nhà ở năm 2014 (Quốc hội, 2014) thì “Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh”. Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư là phần diện tích bên trong của căn hộ, các trang thiết bị bên trong căn hộ của chủ sở hữu và các phần khác trong chung cư như ban công, không gian ngoài ban công,… của chung cư theo quy định của pháp luật. Phần sở hữu chung của nhà chung cư: ngoài những phần sở hữu riêng, còn lại là những phần sở hữu chung của chung cư. Các thành phần đó bao gồm: hành lang, thang máy, thang bộ, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống cảnh báo khối, hệ thống điện nước, hệ thống thoát nước, hệ thống xử lý rác thải, công viên, khu vui chơi giải trí,… theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, nhà chung cư là dạng nhà ở được xây dựng cho nhiều hộ gia đình, trong đó không gian trong mỗi căn hộ là phần thuộc sở hữu riêng của mỗi hộ gia đình, phần diện tích bên ngoài căn hộ bao gồm cả quyền sử dụng đất và không gian là thuộc sở hữu chung của các hộ gia đình. Phân hạng nhà chung cư Theo thông tư 31/2016/TT-BXD (Bộ xây dựng, 2016) ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 đã phân hạng nhà chung cư thành 3 hạng khác nhau: Hạng A: là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định của pháp luật, đồng thời phải đạt tối thiểu 18 trên tổng số 20 tiêu chí theo hướng dẫn tại phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư này. Hạng B: là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này, đồng thời phải đạt tối thiểu 18 trên tổng số 20 tiêu chí theo hướng dẫn tại phụ lục số 02 ban hành kèm theo Thông tư này. Hạng C: là nhà chung cư đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để được phân hạng theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Thông tư này nhưng không đạt đủ tiêu chí để công nhận hạng A và hạng B theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.
Cư dân sống tại chung cư Theo điều 9, Luật nhà ở 2005 (Quốc hội, 2005) thì đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao trong đó có chung cư bao gồm Tổ chức, cá nhân trong nước không phụ thuộc vào nơi đăng ký kinh doanh, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; các cá nhân là Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và Tổ chức, cá nhân nước ngoài được quy định tại luật này. Còn theo luật Nhà ở sửa đổi đã được quốc hội thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015 quy định đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam gồm: Tổ chức, hô 5gia đình, cá nhân trong nước; Người Việt Nam định cư nước ngoài được phép nhập cảnh vào Việt Nam; Tổ chức, cá nhân nước ngoài đâu tư xây dựng nhà ở thương mại ba gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực đảm bảo quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính Phủ. Vậy nói một cách dễ hiểu thì cư dân tại chung cư là những người đang sống tại các chung cư, chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện sống, những quy định tại chung cư 13 đó. Cư dân ở chung cư có thể là người người sở hữu hợp pháp hoặc không phải là người sở hữu và đang đang sống dưới hình thức thuê, cho, tặng.
Tuy nhiên những người tham gia trong ban quản lý phải là người sở hữu hợp pháp. Đề tài này không phân biệt đối tượng khảo sát có phải là sở hữu tài sản chung cư hay không mà chỉ cần là cư dân đang sinh sống tại chung cư. Ban quản lý chung cư Theo Điều 71 Luật Nhà ở (Quốc hội, 2014) thì công tác tổ chức quản lý việc sử dụng nhà chung cư được điều hành bởi ban quản trị hay ban quản lý. Ban quản trị nhà chung cư là người đại diện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu và những người sử dụng trong quá trình sử dụng nhà chung cư.
Ban quản trị được thành lập trong thời hạn không quá 12 tháng, kể từ ngày nhà chung cư được đưa vào khai thác, sử dụng. Chủ đầu tư có trách nhiệm chủ trì tổ chức Hội nghị nhà chung cư để bầu Ban quản trị. Chủ đầu tư có trách nhiệm chuẩn bị các nội dung liên quan để thông qua Hội nghị nhà chung cư xem xét, quyết định. Khi chưa thành lập được Ban quản trị thì chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện các công việc của Ban quản trị.
Ban quản trị nhà chung cư gồm đại diện các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư đó. Số lượng thành viên Ban quản trị do Hội nghị nhà chung cư quyết định. Nhiệm kỳ của Ban quản trị nhà chung cư tối đa là ba năm. Ban quản trị hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số.
Vậy ban quản trị hay ban quan lý của nhà chung cư được là được bầu chọn từ người đại diện các chủ sở hữu, người sử dụng nhà chung cư. Họ có trách nhiệm xây dựng nội quy sử dụng nhà chung cư phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà chung cư theo quy định của pháp luật; Lựa chọn và ký hợp đồng, giám sát hoặc hủy bõ hợp đồng với doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung cư. Theo các quy định trên thì việc quản lý vận hành nhà chung cư sẽ được một doanh nghiệp quản lý vận hành nhà chung cư, đây là doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư. Doanh nghiệp này chịu trách nhiệm 14 về khâu kỹ thuật vận hành nhà chung cư.
Tuy nhiên các quyết định về hình thức vận hành thì phải được ban quản lý thông qua. Vậy nguồn gốc của vấn đề khiến cư dân có hài lòng khi sống tai chung cư hay không phần lớn xuất phát từ ban quản lý chung cư. Chính vì vậy, đề tài này sẽ chỉ đi đánh giá sự hài lòng của cư dân đối với ban quản lý mà không phải là doanh nghiệp được thuê điều hành chung cư. Sản phẩm được cung cấp tại chung cư Theo quan điểm triết học truyền thống, sản phẩm là vật phẩm tổng hợp các đặc tính về vật lý, hóa học, sinh học được tập hợp trong một hình thức đồng nhất là vật mang giá trị sử dụng và có giá trị (Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, 2010).
Theo quan điểm marketing, sản phẩm là bất cứ cái gì được đem ra bán trên thị trường có thể tạo nên sự chú ý, mua sắm, sử dụng hoặc tiêu thụ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng. Quan điểm marketing tập trung vào khách hàng và sự thỏa mãn nhu cầu khách hàng theo định nghĩa cốt lõi sản phẩm là bất cứ cái gì đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Sản phẩm bao gồm cả yếu tố vật chất và phi vật chất, cả thành phần hữu hình và thành phần vô hình. Sản phẩm hữu hình được gọi là hàng hóa, sản phẩm vô hình được gọi là dịch vụ.