Chương 1: Lý luận tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro hoạt động của NHTM Chương 2: Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro hoạt động của một số NHTM Việt Nam trên địa bàn TP.HCM Chương 3: Giải pháp vận dụng các yếu tố nhằm hạn chế rủi ro hoạt động cho một số NHTM Việt Nam trên địa bàn TP. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM. Tổng quan về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Khái niệm rủi ro kinh doanh ngân hàng Theo trường phái truyền thống, rủi ro được định nghĩa là sự không may mắn, sự tổn thất, mất mát, nguy hiểm.
Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến. Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến. Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Rủi ro là yếu tố bất ngờ tồn tại trong tương lai, nếu xảy ra sẽ mang hậu quả bất lợi mà con người không lường trước được.
Nhưng theo trường phái hiện đại ngày nay thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội. Vì nhà quản trị tin rằng những rủi ro đã được dự báo trước này có thể dễ dàng khắc phục được nên họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để đạt được lợi ích lớn hơn. Vì vậy, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực để có thêm những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Theo tài liệu SSC ( State Security Commission of Viet Nam) cung cấp sử dụng trong hội thảo “Quản trị rủi ro đối với Ngân hàng thương mại” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 4 -5/8/2006 đã định nghĩa: “Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”. Và kết hợp với trường phái hiện đại thì những rủi ro trong kinh doanh ngân hàng hoàn toàn có thể đo lường được nên sẽ mang lại cơ hội tìm ra những biện pháp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phòng ngừa, hạn chế những hậu quả xấu có thể xảy ra cho ngân hàng. Và đây cũng là quan điểm của tác giả khi nghiên cứu về rủi ro hoạt động ngân hàng. Các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng Rủi ro bên trong Rủi ro bên ngoài Rủi ro Rủi ro Rủi ro giá cả Rủi ro thất thoát đối Rủi ro hoạt vốn tượng pháp động khả lý kinh dụng doanh Rủi Rủi Rủi Rủi Rủi ro Rủi ro ro ro tín không ro ro lãi tỷ giá dụng có ứng suất giá khác nguồn trước bù đắp Hình 1.1: Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng.
(Nguồn: “Quản Lý rủi ro dưới góc độ của Ngân hàng” TS. Phạm Tiến Thành - Vietinbank) Từ Hình 1.1 cho thấy hoạt động ngân hàng luôn song hành với các rủi ro. Vì vậy mức lợi nhuận ngân hàng sẽ luôn tỉ lệ thuận với độ rủi ro. Có rất nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nhưng rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động đang là những rủi ro chính mà ngân hàng đang phải đối mặt.
Trong đó, rủi ro tín dụng là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho ngân hàng khi một khách hàng hay một nhóm khách hàng không trả được nợ vay cho ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Rủi ro hoạt động là loại rủi ro gây thiệt hại xuất phát từ việc các quy định nội bộ, con người và hệ thống không đầy đủ, hoặc không hoạt động, hoặc xuất phát từ các sự kiện bên ngoài. Rủi ro thị trường là hiện tượng xảy ra gây thiệt hại cho ngân hàng do sự biến động của lãi suất, tỷ giá và giá chứng khoán. Còn rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ của mình khi đến hạn.
Theo Charles Taylor, 2009 cho rằng cả rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản và cả rủi ro thị trường đều dẫn tới việc ngân hàng bị tổn thất trong hoạt động kinh doanh. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Các loại rủi ro có mối quan hệ biện chứng với nhau, một rủi ro này xảy ra sẽ kéo theo một loạt các rủi ro khác. Ví dụ một cán bộ tín dụng không chấp hành đúng các quy chế nghiệp vụ ( rủi ro hoạt động) gây ra thất thoát tài sản ( tức là gây ra rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản…).
Trong các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thì rủi ro hoạt động là loại rủi ro ảnh hưởng nhiều nhất và luôn luôn cộng hưởng với các loại rủi ro khác. Đây là rủi ro từ con người, từ hệ thống nội bộ nên nó gắn liền với từng phòng ban hiện có của ngân hàng. Chính vì vậy trong quản lý rủi ro nếu quản lý tốt rủi ro hoạt động sẽ làm giảm thiểu nguy cơ xảy ra các rủi ro khác.2 là mô hình biểu thị mối quan hệ giữa RRHĐ với các loại rủi ro khác: Rủi ro tín dụng Rủi ro thanh Rủi ro thị trường Rủi ro hoạt khoản động Rủi ro tài sản Hình 1.2: Mối tƣơng quan giữa các loại rủi ro trong ngân hàng (Nguồn: Sự tổng hợp và đánh giá của tác giả) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rủi ro hoạt động.
Khái niệm rủi ro hoạt động Trong quá trình nghiên cứu và phỏng vấn rất nhiều nhà quản trị ngân hàng trên khắp thế giới, từ năm 1988 đến nay, BIS (Bank for international settlement) đã đưa ra khá nhiều định nghĩa về RRHĐ. Qua nhiều lần sửa đổi, hiện nay định nghĩa về RRHĐ được chấp nhận rộng rãi là: “Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất do các nguyên nhân như con người, sự không dầy đủ hoặc vận hành không tốt các quy trình, hệ thống; các sự kiện khách quan bên ngoài. RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín.” Theo báo cáo của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng tháng 9 năm 2001 với cách định nghĩa chung nhất thì Rủi ro hoạt động (hay còn gọi là rủi ro tác nghiệp) là rủi ro phát sinh từ những sai sót của hệ thống thông tin hoặc kiểm soát nội bộ, dẫn đến thất thoát không lường trước. Loại rủi ro này liên quan đến lỗi của con người, hỏng hóc của hệ thống điện toán và các quy trình kiểm tra không thỏa đáng hoặc từ các sự kiện bên ngoài.
Khái niệm RRHĐ bao gồm cả rủi ro pháp luật, rủi ro chiến lược và rủi ro về danh tiếng. Từ các khái niệm trên, tác giả cho rằng RRHĐ có thể được hiểu là loại rủi ro xuất phát chủ yếu từ những hạn chế trong nội bộ ngân hàng liên quan đến con người, quy trình hoạt động, hệ thống công nghệ… RRHĐ có thể dẫn tới tổn thất tài chính như bị phạt hành chính do không tuân thủ, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý, tài sản bị mất hoặc hủy hoại… và tổn thất phi tài chính như ảnh hưởng đến uy tín, gián đoạn hoạt động, mất khách hàng hoặc bị thanh tra kiểm tra, giám sát đặc biệt… 1.2 Các loại rủi ro hoạt động. Theo “Consultative Document” của Ủy Ban Basel, 2011 thì RRHĐ được chia thành các loại bao gồm như sau: Rủi ro gian lận và tội phạm nội bộ. Là các nguy cơ xảy ra tổn thất do các hành động cố ý gian lận, biển thủ tài sản hoặc không tuân thủ các quy định luật hay các quy định của tổ chức tài chính, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 không kể các trường hợp đa dạng hóa nhân viên (chủng tộc, giới tính); phân biệt đối xử và liên quan đến ít nhất một bên giao dịch.
Các hành vi giao dịch nội bộ có thể là: Giao dịch không báo cáo, cố tình ghi chép số liệu sai khi giao dịch, giao dịch trái phép, gian lận tín dụng hoặc giả mạo giấy tờ thậm chí là cả hành vi tham ô tài sản. Rủi ro gian lận và tội phạm bên ngoài. Là rủi ro do các hành động có ý định gian lận, biển thủ tài sản hoặc không tuân thủ luật pháp của bên thứ ba. Các hành vi gian lận và tội phạm bên ngoài cụ thể là: Hành vi gian lận (giả mạo giấy tờ, gian lận trong báo cáo các thông tin tình hình tài chính…); Hành vi trộm cắp, cướp; Hành vi đe dọa sự an toàn của hệ thống thông tin (xâm nhập, phá hủy hay gây sự cố cho hệ thống dữ liệu, trộm cắp thông tin làm tổn thất vật chất…).
Rủi ro từ hành động sai trái liên quan đến khách hàng, sản phẩm và thông lệ kinh doanh. Là rủi ro phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ đối với đối tượng khách hàng cụ thể do sơ suất hoặc cẩu thả (gồm các yêu cầu về ủy thác và khả năng thích ứng với yêu cầu của khách hàng), hoặc phát sinh từ bản chất hay cấu trúc của một sản phẩm. Các hoạt động cụ thể bao gồm: Vi phạm bí mật các thông tin cá nhân; Sử dụng các thông tin mật không đúng chỗ; Vi phạm các quy định về ủy thác; Vi phạm các thông lệ về thị trường và kinh doanh (vi phạm vấn đề chống độc quyền, thực hiện các hoạt động kinh doanh không được phép, tạo ra biến động thị trường để thu lời bất chính, sử dụng thông tin nội bộ giao dịch kiếm lời (trên tài khoản của ngân hàng, tài khoản công ty chứng khoán), rửa tiền bất hợp pháp…); Hoặc do hành vi không thực hiện điều tra tìm hiểu khách hàng theo đúng quy định.