Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 này nhằm mục đích giới thiệu cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Trên cơ sở này, một mô hình lý thuyết và các giả thuyết được xây dựng. Chương này bao gồm hai phần chính: (1) cơ sở lý thuyết về quyết định vay tiêu dùng cá nhân tại Ngân hàng thương mại; (2) mô hình nghiên cứu và các giả thuyết.
Một số vấn đề chung về cho vay tiêu dùng 2. Khái niệm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế.trước khi họ có đủ khả năng tài chính để hưởng thụ. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là Ngân hàng tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình và cá nhân.
Khác với cho vay kinh doanh, ở đây người đi vay sử dụng tiền vay vào các hoạt động không sinh lời, nguồn trả nợ độc lập so với việc sử dụng tiền vay, vì thế nó có đặc điểm sau: - Tiền lãi tính theo lãi gộp hay lãi giảm dần. - Thời hạn cho vay tương đối dài. - Phục vụ cho nhu cầu đời sống – nhu cầu phát sinh hàng ngày của đại đa số dân chúng. - Cho vay tiêu dùng thường có tài sản bảo đảm - Các khoản cho vay tiêu dùng luôn được đánh giá là đem lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng do lãi suất cho vay thường cao hơn so với lãi suất Ngân hàng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải huy động từ các nguồn khác nhau để thực hiện cho vay do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao bởi thời hạn vay dài nên nguồn trả nợ của người vay có thể biến động lớn, nó phụ thuộc vào quá trình làm việc, kinh nghiệm, tài năng và sức khỏe của người vay… Nếu người vay bị chết, ốm hoặc mất việc làm Ngân hàng sẽ rất kho thu lại được nợ.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có xu hướng nhạy cảm trước các tác động của chu kì kinh tế. - Chủ yếu là cho vay trả góp vốn và lãi hàng tháng. Lãi suất cho vay tiêu dùng thường ít co dãn so với nhu cầu vay. Người đi vay tiêu dùng chủ yếu quan tâm tới khoản thanh toán hàng tháng họ phải trả Ngân hàng là bao nhiêu.
- Quy mô các khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lớn. - Bản chất của cho vay tiêu dùng là ứng trước, trả dần, là động lực để người vay kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm, đảm bảo nghĩa vụ nợ, họ lo dành dụm cho những mục tiêu lớn, không chi tiêu vô ích. Các loại cho vay tiêu dùng Hiện nay các NHTM đã phát triển các sản phẩm tín dụng khá đa dạng và phong phú dành cho khách hàng cá nhân. Tiêu biểu cho việc cung cấp các sản phẩm tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ở các NHTM lớn như Agribank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, Đông Á… Các sản phẩm tín dụng tập trung vào các nhóm chính sau đây: - Cho vay xây dựng, sửa chữa nhà: nhằm hỗ trợ nhu cầu xây dựng, sửa chữa, cải tạo nâng cấp nhà ở của khách hàng.
- Cho vay mua nhà, đất: hỗ trợ khách hàng có nhu cầu về mua nhà ở, đất ở và cần sự hỗ trợ tài chính. - Cho vay người lao động làm việc ở nước ngoài: hỗ trợ tài chính cho người lao động Việt Nam được tuyển dụng đi làm việc ở nước ngoài. - Cho vay mua xe ô tô: hỗ trợ khách hàng có nhu cầu mua xe ô tô để phục vụ đi lại. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Cho vay hỗ trợ du học: được thiết kế và cung cấp cho khách hàng có nhu cầu chứng minh tài chính hoặc tài trợ chi phí cho con em mình đi du học trong nước và nước ngoài.
- Cho vay cán bộ công nhân viên: là hình thức vay tín chấp cung cấp cho khách hàng là cán bộ công nhân viên tại các đơn vị thực hiện chi lương qua Ngân hàng. - Cho vay sinh hoạt – tiêu dùng khác: nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cá nhân, gia đình. Đối tượng cho vay tiêu dùng Khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Vai trò của cho vay tiêu dùng 2.
Đối với nền kinh tế Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hoá dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nếu không được dùng đúng như vậy thì có thể làm giảm khả năng tiết kiệm trong nước. Dưới đây, ta có thể thấy vai trò của cho vay tiêu dùng đối với các yếu tố trong nền kinh tế sau: - Thứ nhất, đối với doanh nghiệp, cho vay tiêu dùng thúc đẩy nhu cầu chi tiêu của người dân đối với sản phẩm của các doanh nghiệp tạo ra, do đó quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng theo để đáp ứng nhu cầu của người dân, mức độ đổi mới và phong phú về chất lượng ngày càng lớn. Chính điều này đã làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả, đó chính là nền tảng tăng trưởng kinh tế.
- Thứ hai, cho vay tiêu dùng thúc đẩy thành phần tiêu dùng và do đó gia tăng cầu trong nước, trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội, hạn chế sự phụ thuộc vào cầu nước ngoài, do đó thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững hơn. - Thứ ba, góp phần xoá bỏ vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp – tiết kiệm ít – sản lượng thấp. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thứ tư, cho vay tiêu dùng thúc đầy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và từ đó làm tăng thu nhập, tạo khả năng tiết kiệm, mở rộng cơ hội huy động vốn và phát triển các dịch vụ Ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Đối với cá nhân, hộ gia đình Với nền kinh tế phát triển, khoa học – kỹ thuật hiện đại ngày nay, sản xuất ra nhiều hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong xã hội.
Tín dụng tiêu dùng mở rộng sẽ hỗ trợ cho người dân trong việc chi tiêu (như: mua, xây sửa chữa nhà, mua xe, tiêu dùng, du lịch, du học,…) nhằm nâng cao mức sống, trình độ dân trí của họ. Nhu cầu chi tiêu được đáp ứng sẽ giúp cho người lao động được thỏa mãn, tái tạo sức lao động, kích thích người dân lao động làm việc tích cực, sáng tạo, năng suất cao. Mở rộng cho vay tiêu dùng qua các Ngân hàng sẽ làm giảm đi các hiện tượng cho vay nặng lãi, giúp những người nghèo giảm bớt gánh nặng trong việc trả lãi tiền vay mượn. Qua hoạt động cho vay tiêu dùng, người dân có thể tiết kiệm tích lũy để đầu tư, phát triển, như: mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà ở, du học, mua xe, giải trí,… đời sống người dân được nâng cao.
Đối với Ngân hàng cho vay Trong xu thế kinh tế thế giới hội nhập đã mở ra cho ngành Ngân hàng nhiều cơ hội phát triển. Ngân hàng trở thành một ngành đầy tiềm năng và thử thách, thu hút được nhiều lĩnh vực khác liên quan. Sản phẩm dịch vụ Ngân hàng ngày càng phong phú và đa dạng từ huy động vốn cho đến cấp tín dụng. Việt Nam với dân số 90 triệu người là một thị trường đầy tiềm năng đối với các Ngân hàng thương mại, đặc biệt là các sản phẩm dịch vụ cá nhân.
Mức sống người dân ngày càng cao là một thị trường hấp dẫn cho các Ngân hàng thu hút vốn (dưới dạng tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm), thu phí dịch vụ thanh toán (chuyển tiền, phí kiểm đếm tiền, phí giữ hộ,…) và lợi nhuận từ cấp tín dụng. Tín dụng và dịch vụ là hai nguồn thu chính của các Ngân hàng thương mại. Cho vay cá nhân là một kênh thuận lợi cho các Ngân hàng tiếp cận các tiện ích khác của Ngân hàng, như: tiền gửi, tiền thanh toán, các dịch vụ chuyển tiền, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyển khoản, kiểm đếm, giữ hộ,…đồng thời giúp Ngân hàng phân tán rủi ro từ tín dụng doanh nghiệp sang tín dụng cá nhân. Những đặc điểm của tín dụng cá nhân Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn.
So với việc cho vay sản xuất kinh doanh, giá trị các khoản cho vay cá nhân không lớn. Điều này một phần do giá trị hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng ở mức vừa phải. Mặt khác, đa số các khách hàng vay vốn đã có sự tích luỹ từ trước đối với các tài sản có giá trị lớn, họ chỉ tìm đến Ngân hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng cá nhân. Tuy quy mô khoản vay này là nhỏ nhưng tổng quy mô cho vay của Ngân hàng lại rất lớn, do số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn tín dụng cá nhân lớn.
Thứ hai, các khoản tín dụng cá nhân có mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt. Khách hàng cá nhân thường ít “nhạy cảm” với lãi suất, họ thường chỉ quan tâm đến khoản tiền phải trả hàng tháng hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng. Thứ ba, tín dụng cá nhân có chi phí lớn nhất trong danh mục tín dụng của Ngân hàng. Bởi quy mô của mỗi khoản vay thường nhỏ thậm chí không đáng kể song số lượng các khoản vay lại rất lớn.
Hơn nữa, việc cập nhật các thông tin cá nhân khó có thể đầy đủ và chính xác. Do vậy, Ngân hàng phải thực hiện rất nhiều bước trong quá trình cho vay từ lúc tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng, giải ngân cho đến lúc thu hồi nợ. Thứ tư, tín dụng cá nhân có mức độ rủi ro cao. Điều này xuất phát từ 2 nguyên nhân sau: - Cho vay khách hàng cá nhân dễ gặp rủi ro đạo đức.
Khả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập và thiện trí trả nợ của người đi vay.