Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết 7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Y tế số Theo World Health Organization (2019), Y tế số (Digital Health) liên quan đến các hoạt động sử dụng phương tiện điện tử, công nghệ để cung cấp thông tin, tài nguyên và dịch cụ liên quan đến sức khỏe: các công nghệ số như máy tính, điện thoại di động, các thiết bị đeo tay thông minh, cảm biến, Artificial Intelligence (AI), Internet of Things (IoT) và các công nghệ khác để cải thiện chăm sóc sức khỏe và giảm thiểu chi phí y tế. Các hành động nền tảng của Y tế số sẽ xây dựng một môi trường thuận lợi cho việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho y tế. Y tế số sẽ tập trung vào việc thu thập, khai thác sử dụng dữ liệu y tế bằng các công nghệ số ứng dụng trong các hoạt động của ngành y tế. Ví dụ như các cảm biến vật lý có thể thu thập dữ liệu từ môi trường xung quanh, khả năng lưu trữ, tính toán và phân tích lượng lớn dữ liệu thu thập được, các hoạt động tự động có thể hỗ trợ người sử dụng ra quyết định dựa trên các dữ liệu thu thập được, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các bệnh nhân từ xa thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin.
Dịch vụ chăm sóc này có thể bao gồm cả chuẩn đoán và điều trị, cung cấp thuốc men, tư vấn. Việc sử dụng công nghệ và kết nối Internet cung cấp các phương pháp mới để sử dụng và cải thiện các dịch vụ y tế. Y tế số có thể được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân mà không cần đến bác sĩ, có thể giáo dục và nâng cao tay nghề các chuyên gia y tế thông qua học tập trực tuyến. Y tế số có thể sử dụng ở cấp địa phương, cấp quốc gia, cấp khu vực và toàn cầu như một phương tiện hữu ích để thúc đẩy và củng cố hệ thống y tế và thông tin y tế.
Y tế số cũng bao gồm khả năng lập tài liệu, quản lý, tìm kiếm, sử dụng và chia sẻ thông tin để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và xã hội. Việc sử dụng các quy trình điện tử trong y tế khuyến khích sử dụng hiệu quả các tài nguyên liên quan đến sức khỏe, bao gồm giảm chi phí, tăng tốc độ cung cấp, tiết kiệm thời gian, giảm đi lại và loại bỏ nhu cầu về không gian vật lý để điều trị mọi bệnh nhân.2 Dễ sử dụng Nielsen (1994) đã định nghĩa khái niệm usability hay còn gọi là dễ sử dụng là khả năng của một sản phẩm hoặc một giao diện được người dùng sử dụng một cách hiệu quả, hiệu 9 nghiệm và thỏa mãn được người dùng trong một ngữ cảnh và có mục đích sử dụng cụ thể. Theo Nielsen (1994) để đạt được tính dễ sử dụng hay tăng tính dễ sử dụng, các sản phẩm và giao diện người dùng cần được thiết kế dựa trên các tiêu chí sau: độ dễ nhớ, độ dễ học, độ trực quan, tính mạch lạc, tính thân thiện với người dùng, tính an toàn và thích nghi. Tương tự Norman (1988) cho rằng dễ sử dụng chính là độ dễ dàng và thích hợp trong việc sử dụng một hệ thống hoặc một sản phẩm nào đó, với mục đích đạt được sự hiệu quả, hiệu nghiệm và thỏa mãn người dùng trong một hoàn cảnh và một mục đích cụ thể.
Norman cũng đưa ra quan điểm rằng, không phải người dùng mà là sản phẩm hoặc hệ thống đó phải được thiết kế sao cho dễ sử dụng. Nếu thiết kế xảy ra lỗi thì sẽ không được coi là lỗi của người dùng mà là lỗi thiết kế của sản phẩm hoặc hệ thống đó. ISO 9241 – 11 (1998) cũng đã đưa ra rằng, theo đó tính dễ sử dụng được định nghĩa theo hai khía cạnh là hiệu quả và hài lòng. Ở khía cạnh hiệu quả của tính dễ sử dụng liên quan đến khả năng của sản phẩm hoặc giao diện người dùng để giúp người dùng sử dụng có thể đạt được mục tiêu của họ một cách nhanh chóng và chính xác.
Nếu một sản phẩm hay giao diện người dùng hiệu quả sẽ giúp người dùng hoàn thành các tác vụ một cách dễ dàng và nhanh chóng, giảm thiểu được sai sót đồng thời tăng năng suất. Về khía cạnh hài lòng thì lại đề cập đến mặt cảm nhận của người dùng về sản phẩm hoặc giao diện người dùng. Nếu sản phẩm hoặc giao diện người dùng có tính dễ sử dụng cao sẽ giúp người dùng cảm thấy hài lòng và thoải mái trong quá trình sử dụng, điều đó giúp tăng trải nghiệm người dùng và sự hài lòng của khách hàng 2.3 Mức độ phổ biến Theo Kotler và Keller (2019), độ phổ biến là mức độ được chấp nhận và sử dụng bởi thị trường người tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định của một sản phẩm, dịch vụ hoặc ý tưởng nào đó. Mức độ phổ biến của một sản phẩm hoặc dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng, tính năng, giá cả, quảng cáo, thị trường tiềm năng, đối tượng khách hàng, các yếu tố văn hóa xã hội và tình hình kinh tế.
Độ phổ biến có thể được tăng cường bằng cách sử dụng các chiến lược marketing hiệu quả. Đối với Gladwell (2000) ông cho rằng độ phổ biến là qua trình lan truyền một ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ trong cộng đồng một cách nhanh chóng và rộng rãi. Trong khi đó Rogers (1962) lại định nghĩa độ phổ biến là quá trình lan truyền một ý tưởng, sản phẩm hay dịch vụ từ nhóm người sử dụng đầu 10 tiền đến nhóm người sử dụng tiếp theo trên một địa bàn nhất định và một khoảng thời gian nhất định. Tương tự Christensen (1997) cho rằng độ phổ biến là khả năng của một sản phẩm hay dịch vụ có thể đáp ứng nhu cầu của một lượng lớn khách hàng hay một tệp khách hàng trong một thời gian cụ thể, ngoài ra Eric von Hipple (2005) cũng đã bổ sung thêm rằng độ phổ biến là khả năng của một sản phẩm hay dịch vụ được tùy biến sử dụng cho người dùng cuối thay vì chỉ sử dụng cho người chuyên nghiệp.4 Tính tiện lợi Keller và Kotler (2021) định nghĩa tính tiện lợi là khả năng của sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng một cách dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện, giúp tiết kiệm thời gian và công sức của khách hàng.
Ngoài ra tính tiện lợi của một sản phẩm hay dịch vụ cũng được đánh giá bằng cách đo lường sự dễ dàng và đơn giản trong quá trình sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Điều này bao gồm các yếu tố như địa điểm, thời gian, phương thức thanh toán, mức độ sẵn có, trải nghiệm trong quá trình mua hàng và giao hàng, quá trình và cách thức hỗ trợ, chăm sóc khách hàng sau khi mua. Yếu tố này là một trong những các yếu tố tạo nên sự khác biệt và tăng tính cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ cùng loại. Parasuraman và cộng sự (1985) cho rằng tính tiện lợi là mức độ dễ dàng khi sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ.
Các yếu tố thể hiện tính tiện lợi gồm sự đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng và thời gian giao hàng nhanh chóng. Davis (1989) bổ sung thêm rằng tính tiện lợi ảnh hưởng đến sự hữu dụng của sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, bao gồm mức độ dễ sử dụng của sản phẩm hay dịch vụ, sự tiện lợi trong việc học cách sử dụng và độ phù hợp với nhu cầu sử dụng.5 Sự chấp nhận cái mới Davis (1989) đã định nghĩa sự chấp nhận cái mới đối với một công nghệ mới là mức độ mà người đó đồng ý và có ý định sử dụng công nghệ đó trong tương lai. Theo ông, sự chấp nhận của người dùng đối với một công nghệ mới sẽ phụ thuộc vào yếu tố chính: độ dễ dàng sử dụng và độ hữu ích. Còn Rogers (1962) lại định nghĩa sự chấp nhận cái mới rằng sự chấp nhận cái mới của một cá nhân hoặc một nhóm đối với một sự đổi mới là quá trình thông qua đó cá nhân hay nhóm đối tượng sẵn sàng chấp nhận và sử dụng đổi mới đó trong cuộc sống hàng ngày của mình và việc đổi mới đó được áp dụng sẽ có những hậu quả tích 11 cực hay tiêu cực.
Theo Rogers (1962), ông cho rằng sự chấp nhận cái mới phụ thuộc vào năm yếu tố chính: tính mới mẻ thể hiện độ khác biệt với những gì đã tồn tại trước đó, tính hữu ích đề cập đến khả năng giải quyết các vấn đề hoặc nhu cầu của người dùng, tính dễ sử dụng thể hiện mức độ dễ dàng sử dụng hoặc học hỏi để sử dụng, tính thích hợp với giá trị văn hóa thể hiện sự phù hợp với giá trị, thái độ, văn hóa của người sử dụng và tính tương đối là mức độ so sánh với các sự lựa chọn khác đã có sẵn. Tương tự, Ajzen (1991) cũng cho rằng sự chấp chận cái mới trong nghiên cứu của mình rằng sự chấp nhận cái mới của một cá nhân hay một nhóm đối tượng nào đó đối với một đổi mới đề cập đến quá trình thông qua đó người dùng có sẵn sàng chấp nhận, sử dụng đổi mới đó trong cuộc sống hàng ngày của mình hay không. Đối với Ajzen, để đạt được hành vi thực tế và có liên quan đến khả năng thích ứng của cá nhân với môi trường mới thì sự chấp nhận là một bước rất quan trọng. Theo ông, ba yếu tố chính sẽ quyết định sự chấp nhận cái mới ở một cá nhân hay một nhóm đối tượng đó là thái độ thể hiện sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân hay nhóm đối tượng đối với hành vi hoặc đổi mới bất kì; nhận thức về áp lực xã hội là sự ảnh hưởng của người khác, những kỳ vọng và sự thúc đẩy từ xã hội hay môi trường xunh quanh; khả năng kiểm soát là sự tin tưởng vào khả năng của bản thân trong việc thực hiện hành vi hoặc sự đổi mới.6 Thái độ tiêu cực và lo lắng 2.
Thái độ lo lắng Beck (1985) cho rằng thái độ lo lắng là một sự lo lắng về tương lai, với các nỗi lo sợ và suy đoán về những điều xấu có thể xảy ra trong tương lai, thái độ lo lắng thường được kích hoạt bởi các suy nghĩ tiêu cực, những quan niệm sai lầm về bản thân, tương lai hoặc thế giới xung quanh.