CHƯƠNG 1 Tông hợp về quyết định gửi tiền của kliách hàng cá nhân cũng như các phương pháp đánh giá quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhàn đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Bên cạnh đó, lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Qua đó tiến hành xây dựng mô hinli nghiên cứu đề xuất gồm các nhân tố quyết định gữi tiền. 15 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tông quan về ngân hàng thương mại và dịch vụ gửi tiền tiết kiệm 2.1 Tông quan về ngân hàng thương mại Ngân hàng (Tiếng Anh: bank) là một tô chức tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênli những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị tnrờng vốn.
Theo Nghị địnli 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh kliác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định cùa Luật các Tô chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật ơ Việt Nam, theo Luật Các tô chức thi dụng năm 2010: Ngân hàng là loại hình tô chức tín dụng được thực hiện mọi hoạt động ngân hàng theo quy định; nhận tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi và các loại tiền gửi khác; phát hành chứng chi tiền gừi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu đê thu hút vốn trong và ngoài nước; tô chức tín dụng; mờ tài klioản séc cho khách hàng; Cung cap các phương tiện và dịch vụ thanh toán. (Luật các tổ chức tín dụng 2010 sổ 47/2010/QH12) Ngân hàng là loại hình tô chức tín dụng có thê được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Tô chức tín dụng. Bân chất hoạt động ngân hàng là kinh doanh tiền tệ, theo đó ngân hàng cung ứng các sàn phâm/dịch vụ như nhận tiền gửi, cap tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chí nil sách, ngân hàng hợp tác xã.
Phân loại các loại hình ngân hàng ở Việt Nam hiện nay Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại Nhà nước Ngân hàng thương mại cô phần Ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng liên doanh Ngân hàng chính sách Ngân hàng hợp tác xã 16 2.2 Dịch vụ ngân hàng Theo Phan Thị Thu Hà (2014) ngân hàng là một doanli nghiêp cung cấp dịch vụ cho xã hội. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác địnli các địch VỊ1 tài chínli mà xã hội có nhu cầu, thực hiện cung cấp các dịch VỊ1 đó một cách có hiệu quả. Nhận tiền gửi ♦ ỉ* Tiền gửi tiết kiệm cửa cá nhân và tiền gửi có kỳ hạn của tô chức Theo Phan Thị Thu Hà (2014) ngân hàng là tô chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinli tế. Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanli nghiệp, các tồ chức kinh te xã hội đều gừi tiền tại ngân hàng nhằm mục tiêu đảm bãọ an toàn và sinh lời.
Ngân hàng mờ dịch vụ nhận tiền gìri đê bão quân hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranli đê tìm và giànli được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trà lãi cho tiền gửi nliiĩ là phần thường cho khách hàng về việc săn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sừ dụng tạm thời đê kinh doanh. Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách thuận lợi thông qua hệ thống mạng lưới dày đặc, giúp kliách hàng có thê gửi tiền vào ngân hàng mọi lúc, mọi nơi với chi phí thấp nhất. Nhiều tiện ích được kết nối với tài khoản tiền gừi, cho phép khách hàng có thê sừ dụng tiền thuận tiện.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ giữ tiền một cách an toàn do ngân hàng có két tốt, được kiêm soát chặt chẽ nhằm đảm bào khả năng chi trả và tham gia bảo hiêm tiền gửi. Ngân hàng cung cấp dịch vụ ghì tiền có trả iãi. Chi phí trả lãi tiền gửi là khoản chi phí rất lớn cũa ngân hàng và là thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình ❖ Cung cấp tài khoản giao dịch và thực hiện ủy thác Ngân hàng mờ tài khoản tiền gừi giao dịch cho mọi tô chức và cá nhân có nhu cầu. Khi khách hàng gừi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chi bảo quản mà còn thực hiện các lệnh cùa khách hàng trên phạm vi quốc gia hoặc toàn cầu như chi hộ, thu hộ, chuyên tiền, quàn lý hộ.
❖ Cấp tín dụng bao gồm: Theo Phan Thị Thu Hà (2014) cho vay thương mại là các khoản cho vay ngan hạn, tài trợ cho tài sàn hru động của doanh nghiệp (thường dưới 12 tháng). Ngay ờ thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết kliấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán (người bán chuyên các khoản phải thu cho ngân hàng đê lấy tiền trước). Sau 17 đó ngân hàng mờ rộng cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua), giúp họ có vốn đê mua hàng dự trữ nham mờ rộng sân xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cho vay tiêu dùng (chủ yếu là tiling và dài hạn) đê mua nhà và các tài sãn ĩâu bền, trang trài chi phí học tập, du lịch.
Bào lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng đối với người thụ hường về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu khách hàng cùa ngân hàng không thực hiện/ hoặc thực hiện không đầy đủ như cam kết. Cho thuê tài chính (thuê mua) là việc ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê với thời gian sao cho tiền thuê thu được phải bù đắp được chi phí và có lãi cho ngân hàng. Khách hàng có quyền mua lại tài sản thuê Các dịch VỊ1 khác: (Mua bàn ngoại tệ, Bão quân tài sàn hộ, Quản lý ngân quĩ, Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn, Cung cấp dịch vụ môi giời chứng khoán, Cung cấp các dịch VỊ1 bảo hiêm 2.3 Hoạt động huy động vốn Ngân hàng kinh doanh ngoại tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Hoạt động vay- hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM - đóng vai trò quan trọng anh hường đến chất lượng hoạt động của NHTM.
Hoạt động huy động vốn là hoạt động thường xuyên cùa ngân hàng thương mại. Một NHTM bất ki nào cũng bat đầu hoạt động của minh bang việc huy động nguồn vốn. Đối tượng huy động của NHTM là nguồn tiền nhàn rôi trong các tô chức kinh tế, dân cư. Nguồn vốn quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tông nguồn vốn của NHTM là tiền gửi của khách hàng.
Các NHTM nhận tiền cùa cá nhân, tô chức kinh te xã hội, thâm chí cả nguồn tiền của các ngân hàng khác. Khi những người có tiền chưa sừ dụng đen họ có thê đem ra đau tư hoặc gửi ngân hàng đê nhận tiền lãi. Thông thường họ gừi tiền vào ngân hàng, vì đây là cách đơn giản, ít tốn kém chi phí đê tìm kiếm cơ hội đầu tư mà vẫn có lãi và đây là cách ít rủi ro nhất. Ngoài ra người gữi tiền vào ngân hàng cũng mong muốn được sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như chuyên tiền cho người thân ờ nơi khác, thanh toán hộ các hóa đơn phát sinh, bảo quản các tài sản có giá trị lớn,.
Khi tiền gửi vào ngàn hàng, người gừi tiền có thê vay ngân hàng một khoản tiền mà không cần thế chấp vì họ đã có một số tiền gửi nhất định ờ ngàn hàng coi như là một khoản đảm bảo. 18 Hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng có ý nghĩa to lớn với người gửi tiền, nền kinh tế, cũng như bản thân của ngân hàng. Thông qua hoạt động này mà ngân hàng có thê tập hợp được các khoản tiền nhàn rỗi, nhò bé, phân tán tạm thời chưa sử dụng và các thời hạn khác nhau thành nguồn tiền lớn tài trợ cho nen kinh te, hoặc cho các cá nhân có nhu cầu sử dụng. Điều khó khăn nhất ngân hàng phải thực hiện là sử dụng các khoản tiền gửi có thời hạn rất khác nhau đê cho vay những món có thời hạn xác định vì thế mà ngân hàng phải quản lý tốt thời hạn của các nguồn vốn cùa mình mới duy trì được hoạt động hiệu quả, tránh đirợc những 11Ú ro về khả năng thanh toán.
Việc tập hợp các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân chúng đê đưa vào kinh doanli đã góp phần tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cùa nền kinh tế. Ngoài ra hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng cũng góp phần tiết kiệm chi phí hru thông tiền tệ. Đặc biệt trong nền kinh te phát triển nếu dân chúng có thói quen gửi tiền vào ngân hàng đê sử dụng các dịch vụ cũa ngân hàng thì điều này sẽ góp phần giúp chính phủ quản lý được thu nhập của người dân. Một trong nliững nguồn vốn không kém phần quan trọng, là nguồn vốn phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
Việc phát hành kỳ phiếu hay trái phiếu phụ thuộc vào quy mô vốn can huy động, thời gian huy động vốn, cơ cấu nợ và tài sản cùa ngân hàng. Các hoạt động huy động nguồn vốn trên đây hình thành nên tài sân nợ cùa ngân hàng và ngân hàng phải có trách nhiệm chi trả đối với tất cà các nguồn vốn huy động được theo yêu cầu cùa khách hàng. Do đó quản lý nguồn vốn phù hợp và sừ dụng vốn có hiệu quả là một van đề mang tính chiến lược đối với môi ngân hàng 2.4 Dịch vụ tiết kiệm tại ngân hàng Tiền gừi tiết kiệm là khoăn tiền đê dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nham mục đích hường lãi theo định kỳ. Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gừi được ngân hàng công bố sẵn.
Hình thức được xem là phô biến và cô điên nhất của tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sô. Khi gửi tiền, ngân hàng sẽ cap cho người gửi một cuốn sô dùng đê ghi nhận các khoản tiền gửi vào và tiền lút ra. Quyên sô này đồng thời là có giá trị như một chứng thư xác nhận ve khoản tiền đã gửi. Theo Phan Thị Thu Hà (2014) tiền gừi cùa khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất,chiếm tỷ trọng lớn trong tông nguồn tiền của ngân hàng thương mại.
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mờ các tài khoản tiền gừi đê giữ hộ 19 và thanh toán hộ cho kliách hàng, bàng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tô chức và cá nhân.