CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ CƠ BẢN VỀ HÀNH VI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG VIỆC LỰA CHỌN NGÂN HÀN GỬI TIẾT KIỆM 1.1 TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng. Với loại tiền gửi này, người gửi được ngân hảng giao cho một số tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền, số tiết kiệm có thể dùng làm vật cằm cố hoặc được chiết khẩu đẻ vay vốn ngân hàng. Phân loại và đặc điểm tiền gửi tiết kiệm 1.1 Theo thời hạn gửi tiền Tiền gửi tiết kiệm gồm các loại sau: ® Tiền gửi không kỳ hạn: Là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng có thể rút ra một số lượng không hạn chế bắt kỳ lúc nào.
Ở các nước phát triển, có hai hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thông, dụng là tài khoản tiết kiệm lập số (pass- book savings) và tài khoản tiền gửi tiết kigm thong bao (statement savings deposits). Tài khoản tiết kiệm lập số được cung cấp cho khách hàng là gia đình với giá trị nhỏ và có đặc quyển rút vốn không hạn chế. Loại tiền gửi này lãi suất nhỏ vả ít nhạy cảm với lai si it. Tại Mỹ, doanh nghiệp.
các nhân, các tổ chức phi loi nhuận và các cơ quan của chính phủ cũng có thể sử dụng tải khoản tiết kiêm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi ôi đa là 150. Tài khoản tiết kiệm thông báo cho phép khách hàng xem được số dư và các lệnh rút tiền của tai khoản trực tuyến (online). Tuy nhiên, hiện nay các ngân hàng vẫn sử dụng hình thức lập sô truyền thông. Mỗi khi cần rút tiền, khách hàng sẽ trình quyền số này cho ngân hàng tại quay giao dich.
Tại Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn cho cá nhân cũng theo hình thức mở sổ. ® Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn hạn:Đây là hình thức tiền gửi tiết kiệm dưới một năm. ® Tiền gửi tiết kiệm trung và d lạn: Đây là hình thức tiền gửi tiết có thời hạn trên 1 nam.2 Theo mục đích hay hình thức của các khoản tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm gồm các loại sau: ® Tiền gửi có kỳ hạn “mua được”: Đây là những khoản tiền gửi có kỳ hạn với lãi suất cố định nhưng khách hàng có thể chuyển khoản tiền gửi này sang tải khoản thanh toán đề sử dụng bất cứ lúc nào mà không bị phạt lãi suất. Tuy nhiên, khách hảng phải thông báo cho ngân hàng và việc chuyển tiền sẽ được ngân hàng thực hiện trong vòng 24 giờ, số tiền mỗi lần sử dụng phải vượt quá một hạn mức do.
ngân hàng quy định. Hình thức tiền gửi này được áp dụng rất phổ biến tại các nước Bắc Mỹ trong vài năm gần đây. © Trai phiếu tiết kiệm: Đây là những khoản tiền gửi có thời hạn dải. Khách hàng có quyền rút ra sau 3 tháng nhưng bị phạt lãi suất.
® Tiền gửi tiết kiệm tiêu dùng: Bao gồm: Tiết kiệm để mua nhà: Hình thức tiết kiệm này có thời hạn dài (thời hạn ít nhất 5 năm). Khách hàng nộp tiề vào tài khoản ở lần đầu tiên và hảng năm phải nộp tiễn vào tài khoản một so tic tối thiểu theo thỏa thuận trước với ngân hàng. thường, khi khoản tiết kiệm của khách hàng đạt đến một mức thỏa thuận khi ký kết hợp đồng, căn cứ vào tình hình gửi tiền vào tài khoản của khách hàng mã ngân hàng có thể xem xét cho khách hàng vay thêm tiền để mua nhà. Khoản tiền vay sẽ được bảo dam bằng chính ngôi nhà của khách hàng và được trả dần hàng năm.
Tiét kiém cho con di hoc, mua xe, Tiết kiệm hưu trí: Góp hàng tháng để sử dụng khi về giả. Thông thường đối với hình thức này, ngân hàng còn thực hiện kèm theo dịch vụ bảo hiểm, nếu khách hàng chết trước khi hợp đồng kết thúc, thân nhân sẽ được nhận một số tiền nhất định được quy định rõ khi ký kết hợp đồng. Tiết kiệm dưởi hình thức đầu tư vào các quÿ đâu tư của ngân hàng: Đầu tư vào quỹ đầu tư chứng khoán, bất động sản.của ngân hàng. Các nhân tố ảnh hướng đến hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của.
ngân hàng thương mại Cũng như các loại hình kinh doanh khác, hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại chịu tác động bởi nhiều nhân tổ. Có thể chia làm hai nhóm cơ bản như sau: 1.1 Nhân tố khách quan @ Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế bao gồm những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu nhập, thanh toán, chỉ tiêu và nhu cầu vốn và gửi tiền của dân cư. Các yếu tố của môi trường kinh tế như: thu nhập bình quân đầu người; tỷ lệ xuất nhập khảt tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc đân; tỉ lệ lam phát; sự ôn định về kinh tế; chính sách đầu tư, tiết kiệm của chính phủ Môi trường kinh tế có tác động rất mạnh mẽ đến nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Do vậy, nó chỉ phối đến hoạt động của ngân hàng như công tác huy động vốn và khả năng thỏa mãn nhu cầu vốn cùng các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế.
Tình hình và sự thay đôi của các yếu tô thuộc môi trường kinh tế có tác động to. lớn đến sự phát triển kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng. Môi trường kinh tế vừa tạo cho ngân hàng những "cơ hội" kinh doanh. đồng thời cũng tạo ra cả những “thách thức" đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Khi nền kinh tế trong nước rơi vào suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao, hoạt động của các doanh nghiệp sụt giảm thì nhu cầu đối với các sản phẩm tải chính cũng suy giảm, môi trường kinh doanh không thuận lợi. Ngược lại, khi nền kinh tế trong nước đang trong giai đoạn tăng trưởng, các biến số kinh tế vĩ mô đều có dấu hiệu tốt, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ là cơ hội tốt cho hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân nói riêng. Ngân hàng thương mại nhận tiền gửi tir dan cu va cae tổ chức kinh tế, trong đó nguồn tiền gửi tiết kiệm từ dân cư thường có tính ổn định và dài hạn. Năng lực tải chính của người dân ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng.
Người dân có thu nhập cao thì lượng tiền dảnh cho tiết kiệm có thể cảng tăng, đặc biệt khi thu nhập bình quân đầu người đã đạt đến một mức độ nhất định thì tỷ lệ tiết kiệm không phải tăng lên theo tương quan ty lệ với sự gia tăng của thu nhập mà tăng với một tỷ lệ lớn hơn so với thu nhập do những nhu câu thiết yếu lúc này đã được thỏa mãn hoản toàn và lượng tiền dư ra sẽ tăng nhanh. Tuy nhiên, lượng tiề dư ra đó có được gửi vào ngân hàng thương mại hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan. & Mỗi trường văn hóa- xã hội Hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chỉ phối khá nhiều bởi các yếu tố văn hoá. Những hành động trái với truyền thông văn hoá thường khó được chấp nhận.
Hành vi tiêu ding bi chỉ phối bởi các yếu tố văn hoá, do đó nó cũng ảnh hưởng tới nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hằng. Môi trường văn hoá - xã hội được hình thành từ những tổ chức vả những nguồn lực khác nhau có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xã hội như cách nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hóa, lối sống, thói quen sử dụng và cắt trữ tiền tệ và sự hiểu biết của dân chúng vẻ hoạt động ngân hảng. Vấn để tâm lý của người dân cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và nhu cầu. của người dân về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.
Ví dụ, nếu người dân có tâm lý: không tin tưởng vào ngân hàng, thì họ không gửi tiền vào ngân hàng mà cất trữ dưới dang tiền mặt, vàng bạc,đá quý hoặc đã gửi tại ngân hàng nhưng lai rit ra 6 at. & Mỗi trường pháp lý Đây là nhân tố thuộc môi trường bên ngoài và có tác động rất lớn đến hoạt động của ngân hàng thương mại, trong đó có hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân. Do ảnh hưởng to lớn của hoạt động tải chính vào nền kinh tế mà mỗi ngân hàng thương mại đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật. Luật pháp tạo ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động cúa ngân hảng dưới hình thức các Luật, Bộ luật, Pháp lệnh, Nghị định, Quy chế .Đó là những quy định bắt buộc các ngân hàng phải tuân theo, đồng thời cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát 12 sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ khách hàng cá nhân bị rằng buộc bởi quy chế vẻ tiền gửi tiết kiệm. Các quy định của pháp luật nếu không đầy đủ, rõ rằng và thiếu tính đồng bộ, nhất quán thì sẽ gây khó khăn cho hoạt động cúa ngân hàng. Và ngược lại, nếu một hệ thống pháp luật đây đủ và hoàn chinh sẽ là một hành lang pháp lý vững chắc cho các ngân hàng trong hoạt động của mình. & Môi trường công nghệ Những tiến bộ của công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiêm từ khách hàng cá nhan ni lêng.
Các ngân hàng có thể áp dụng những phương tiện, công cụ mới vào hoạt động của mình. từ đó tăng năng suất và hiệu quả lao động, giảm chỉ phí, đồng thời gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hing. Ngày nay, công nghệ thông tin đang được sử dụng rất rộng rãi làm mở rộng danh mục sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Công nghệ hiện đại đã giúp ngân hàng.
cung ứng những dịch vụ mới như ngân hàng điện tử, ngan hang qua mạng. Nhân tố chủ quan & Chiến lược kinh doanh của ngân hàng Khi triển khai một dịch vụ để cung cấp cho khách hảng, các ngân hàng đều phải xây dựng một kế hoạch kinh doanh, một tầm nhìn. Đó chính là chiến lược kinh doanh, được xây dựng trên nền tảng khách hàng mục tiêu mả ngân hàng đang hướng tới và các. yếu tố môi trường.