Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9 34 02 01) với đề tài "Nghiên cứu tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới việc lựa chọn mua nhà ở giá thấp và trung bình" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tuấn Anh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồng Sơn và TS Đinh Xuân Cường, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của việc sở hữu nhà ở đối với cá nhân và toàn xã hội. Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh việc sở hữu nhà mang lại nhiều lợi ích: cải thiện môi trường gia đình, tăng cường khả năng nhận thức của trẻ em, giảm thiểu các vấn đề xã hội (Haurin và cộng sự, 2002), nâng cao lòng tự trọng và sự hài lòng cuộc sống của hộ gia đình (Tan, 2009), nâng cao thành tích học tập của con cái so với các hộ đi thuê (Green và White, 1997), cũng như đáp ứng nhu cầu an toàn và riêng tư theo tháp nhu cầu Maslow (Maslow, 1943, 1954). Tại Việt Nam, quan niệm truyền thống "an cư lạc nghiệp" coi sở hữu nhà là điều kiện tiên quyết để ổn định đời sống. Tuy nhiên, sau hơn hai thập kỷ thị trường hóa, giá bất động sản tại các đô thị lớn tăng cao, gây khó khăn lớn cho nhóm dân cư có thu nhập thấp và trung bình. Mặc dù Chính phủ đã ban hành các cơ chế hỗ trợ (như Nghị quyết số 02/NQ-CP) và các doanh nghiệp đã triển khai xây dựng các dòng sản phẩm tương ứng, khoảng trống nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam về hành vi lựa chọn và sự hài lòng đối với phân khúc này vẫn tồn tại. Về mặt lý thuyết, việc lựa chọn nhà ở chịu ảnh hưởng sâu sắc từ mức độ sẵn có của tín dụng (Vigdor, 2006), song luận điểm này chưa từng được kiểm chứng thực nghiệm đầy đủ trên thị trường nhà ở giá thấp và trung bình tại Việt Nam. Đồng thời, các yếu tố tác động tới quyết định mua nhà mang tính đặc thù cao theo điều kiện kinh tế, văn hóa, thể chế của từng quốc gia (Opoku và Abdul-Muhmin, 2010; Wang và cộng sự, 2011), do đó không thể áp dụng nguyên mẫu kết quả từ các quốc gia khác vào Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là phân tích tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới việc lựa chọn và sự hài lòng đối với nhà ở giá thấp và trung bình của các hộ gia đình ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp đầu tư và các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhà ở của người dân.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về: (i) các nhân tố tài chính và phi tài chính tác động đến việc lựa chọn và sự hài lòng nhà ở giá thấp và trung bình của các hộ gia đình; (ii) các phương pháp đánh giá tác động của các nhóm nhân tố này.
  2. Nghiên cứu tổng quan thực trạng nhà ở giá thấp và trung bình tại Việt Nam.
  3. Phân tích tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến quyết định lựa chọn mua và sự hài lòng nhà ở giá thấp và trung bình của hộ gia đình tại các thành phố lớn của Việt Nam.
  4. Đề xuất một số kiến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư và ngân hàng nhằm hoàn thiện chính sách và phát triển sản phẩm phù hợp.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu tương ứng:

  1. Có các nhân tố tài chính và phi tài chính nào tác động đến việc lựa chọn và sự hài lòng nhà ở giá thấp và trung bình của các hộ gia đình?
  2. Cần sử dụng phương pháp gì để đánh giá tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến quyết định lựa chọn và sự hài lòng nhà ở giá thấp và trung bình của các hộ gia đình tại các thành phố lớn của Việt Nam?
  3. Thực trạng nhà ở giá thấp và trung bình tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
  4. Các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư và ngân hàng cần làm gì để đưa ra chính sách và sản phẩm phù hợp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người mua nhà?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới việc lựa chọn mua nhà ở giá thấp và trung bình của các hộ gia đình ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Luận án tập trung khảo sát thực địa tại ba thành phố có quy mô căn hộ chung cư giá thấp và trung bình lớn gồm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá tổng thể giai đoạn 2012–2015.
  • Phạm vi nội dung: Do việc thu thập thông tin từ những người không mua hoặc chưa mua được nhà trên cùng địa bàn là không khả thi (thiếu dàn mẫu), luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở nhóm khách hàng đã mua được nhà ở xã hội (NOXH) và nhà ở thương mại trung bình thấp (NOTMTBT). Về mặt tài chính, nghiên cứu giới hạn tập trung vào hành vi hộ gia đình (thu nhập, khả năng tiếp cận tín dụng, thời hạn thanh toán nợ) và một số biến số vĩ mô (chi tiêu chính phủ, tổng sản phẩm trong nước GDP, lạm phát) tác động thông qua kênh giá nhà.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến hành vi mua nhà và sự hài lòng của cư dân, chia thành các hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về các nhân tố tài chính:

  • Tác động của lãi suất, tỷ suất sinh lời và lạm phát: Mức tiêu dùng và mua sắm nhà ở nhạy cảm với tỷ suất sinh lời của các tài sản thay thế như trái phiếu. Nhu cầu nhà ở tương quan nghịch với lãi suất vay do chi phí lãi vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sở hữu nhà. Maclennan và cộng sự (2000) cùng Elbourne (2008) chỉ ra lãi suất truyền dẫn qua thị trường nhà đất theo kênh trực tiếp (dòng tiền/thu nhập khả dụng) và kênh gián tiếp (hiệu ứng giàu có và kênh bảng cân đối tài sản/tín dụng thế chấp; Bernanke và Blinder, 1988; Bernanke và Gertler, 1995). Khả năng chi trả lãi vay ban đầu bị giới hạn bởi thu nhập hiện tại (Rosen, 1984). Mối liên hệ dài hạn giữa lạm phát và giá nhà được khẳng định bởi Zhu (2004), Follain (1982), khi lạm phát đẩy chi phí xây dựng tăng và làm xói mòn giá trị đồng tiền.
  • Hạn chế tín dụng và thời hạn thanh toán: Goodhart và Hofmann (2007) phân tích ba hiệu ứng của tín dụng đối với quyết định mua nhà: giải tỏa hạn chế thanh khoản từ thị trường tài chính không hoàn hảo, hiệu ứng giàu có khi giá tài sản gia tăng kích thích nhu cầu vay, và hiệu ứng tài sản thế chấp tác động tới mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Barakova (2003) chứng minh sự sẵn có của tín dụng làm gia tăng nhu cầu nhà ở đối với nhóm hộ bị hạn chế vay vốn. Các chu kỳ tín dụng song hành cùng chu kỳ giá nhà (IMF, 2000; BIS, 2001).
  • Thu nhập hộ gia đình và hiệu ứng giàu có: Garcia-Montalvo và Mas (2000), Martinez và Maza (2003), Garcia-Montalvo (2006) tại Tây Ban Nha chỉ ra thu nhập bình quân đầu người là nhân tố quyết định giá nhà. Modigliani (1971) với mô hình MPS nhấn mạnh hiệu ứng giàu có từ kênh giá tài sản thúc đẩy chi tiêu bất động sản. Trilla (2002) bổ sung các yếu tố nhân khẩu học như quy mô hộ và dòng di cư.
  • Khủng hoảng tài chính và chu kỳ kinh tế: Fortura và Kushner (1986), Jill (2011) nghiên cứu biến động tài sản hộ gia đình và hiện tượng hiệu ứng Matthew (người nghèo chịu tổn thương lớn hơn hoặc ngược lại tùy thuộc phân khúc giá).
  • Chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế: Giả thuyết tài chính công của Oates (1969) và các bằng chứng của García và cộng sự (2010) khẳng định chi tiêu chính phủ cho cơ sở hạ tầng làm tăng giá trị bất động sản khu vực. Hii và cộng sự (1999) chỉ ra biến động GDP tác động cùng chiều đến số lượng và giá giao dịch nhà ở.

Hướng nghiên cứu về các nhân tố phi tài chính:

  • Đặc tính công trình: Thuộc tính bên trong gồm kích thước, số phòng ngủ, phòng tắm, cách bố trí không gian, vật liệu (Cupchik và cộng sự, 2003; Johnson và Phillips, 1984; Greene và Ortuzar, 2002; Opoku và Abdul-Muhmin, 2010; Pasha và Butt, 1996). Thuộc tính bên ngoài gồm thiết kế ngoại thất, cảnh quan, khu sinh hoạt chung (Bhatti và Church, 2004).
  • Môi trường và vị trí: Không gian sống, cây xanh, tiếng ồn, hệ thống thoát nước (Cheshire và Sheppard, 1995; Fierro và cộng sự, 2009; Ekeland và cộng sự, 2004). Vị trí gần nơi làm việc, trường học, trung tâm thương mại và hạ tầng giao thông (Waddell và cộng sự, 1993; Boarnet và Chalermpong, 2001; Bina và cộng sự, 2006; Chay và Greenstone, 2005). Yếu tố sống gần gia đình, họ hàng theo tập quán văn hóa Đông Nam Á (Mulder, 2007; Rohe và Stewart, 1996).
  • Chất lượng sản phẩm và chất lượng dịch vụ: Smith và Wright (2004), Shank và Rajan (1994), Garvin (1983, 1988) phân loại chất lượng sản phẩm, chất lượng sản xuất và chất lượng dịch vụ. Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL với 5 thành phần của Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985, 1988, 1993): Tin cậy (Reliability), Phản ứng (Responsiveness), Đảm bảo (Assurance), Đồng cảm (Empathy), và Hữu hình (Tangibles).
  • Nhân khẩu học và đặc điểm cá nhân: Tuổi tác, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân, quy mô gia đình (Blackwell và cộng sự, 2006; Zikmund và Babin, 2009; Hoyer và MacInnis, 2010; Talloo, 2007; Al-Nahdi và cộng sự, 2015). Động cơ, thái độ, niềm tin, nhóm tham khảo và vai trò của các thành viên trong gia đình khi ra quyết định (Kotler và Keller, 2008; Schiffman và cộng sự, 2012; Solomon, 2009).

Hướng nghiên cứu về sự hài lòng đối với nhà ở:

  • Quyền sở hữu nhà: Mang lại cảm giác an toàn, tăng lòng tự trọng và thúc đẩy cư dân tham gia hoạt động cộng đồng, tạo nên sự ổn định dân cư (Rohe và Stegman, 1994; Rohe và cộng sự, 2001; Harkness và Newman, 2003; Liên và cộng sự, 2008; Aaronson, 2000; Amole, 2009; Elsinga và Hoekstra, 2005).
  • Thuộc tính nhà ở và môi trường sống: Đặc điểm kiến trúc, mật độ xã hội, thông gió, chiếu sáng, an ninh, vệ sinh (Baum và cộng sự, 2010; Hipp, 2010; Parkes và cộng sự, 2002; Potter và Cantarero, 2006; Chapman và Lombard, 2006).
  • Nhân tố cá nhân và tài chính: Mối quan hệ giữa độ tuổi và sự hài lòng (tích cực trong Baum và cộng sự, 2010; Lu, 1999; tiêu cực trong Mohit và cộng sự, 2010). Ảnh hưởng của học vấn (Ren và Folmer, 2016; Baiden và cộng sự, 2011; Liu và Crull, 2006). Tác động của thu nhập và sự gia tăng giá trị tài sản đến mức độ hài lòng (Adriaanse, 2007; Frank và Enkawa, 2009; Fama và Schwert, 1977; DiPasquale và Glaeser, 1999).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Tổng quan tài liệu chỉ ra phần lớn các công trình tập trung tại các thị trường phát triển hoặc phân tích tách rời giữa nhân tố tài chính và phi tài chính. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào đánh giá tích hợp tác động đồng thời của cả hai nhóm nhân tố tài chính (tiếp cận tín dụng, điều kiện vay thế chấp, thu nhập) và phi tài chính (đặc tính kỹ thuật căn hộ, chất lượng dịch vụ quản lý, vị trí địa lý, đặc điểm nhân khẩu học) tới quyết định lựa chọn mua và sự hài lòng sau khi sử dụng nhà ở giá thấp và trung bình trên địa bàn các đô thị trọng điểm. Luận án chọn giải quyết khoảng trống thực nghiệm này nhằm làm rõ tính phù hợp của lý thuyết tín dụng nhà ở trong bối cảnh đặc thù của Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Khái niệm về nhà ở giá thấp và trung bình (Affordable housing): Luận án làm rõ thuật ngữ khả năng chi trả nhà ở (housing affordability) theo định nghĩa của Stone (1993) và Freeman và cộng sự (1997): khả năng của hộ gia đình chi trả các chi phí về nhà ở mà vẫn đảm bảo thu nhập thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu khác. Luận án điểm lại các tiêu chuẩn phân loại hiện hành:

Tiêu chí / Tổ chức Phân loại căn hộ Mức giá quy định
Tiêu chuẩn CBRE (năm 2014) Thấp và trung bình (Affordable housing)
Khá (Mid-end)
Cao cấp (High-end)
Hạng sang (Luxury)
< 16 triệu đồng/m²
16 – 30 triệu đồng/m²
30 – 50 triệu đồng/m²
> 50 triệu đồng/m²
Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ Nhà ở cho người thu nhập thấp Diện tích < 70 m², đơn giá bán < 15 triệu đồng/m²

Nhận thấy các định nghĩa dựa trên mức giá cố định không phản ánh sự khác biệt về mức sống, thu nhập và đặc điểm địa lý giữa các vùng miền, luận án áp dụng phương pháp tỷ lệ giữa giá nhà và thu nhập bình quân hộ gia đình theo công thức của Murdie (2003) và Chen và cộng sự (2010): $$\text{Giá căn hộ} = \text{GDP bình quân/người} \times \text{Quy mô hộ} \times \text{Tỷ lệ thu nhập}$$ Kết hợp điều tra thực tế và phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia, luận án xác định ngưỡng giá trần căn hộ giá thấp và trung bình cho từng địa phương nghiên cứu:

  • Thành phố Hà Nội: Dưới 2,0 tỷ đồng/căn hộ.
  • Thành phố Hồ Chí Minh: Dưới 1,7 tỷ đồng/căn hộ.
  • Thành phố Đà Nẵng: Dưới 1,2 tỷ đồng/căn hộ.

Các khung lý thuyết bổ trợ:

  • Lý thuyết hành vi người tiêu dùng (Kotler và Keller, 2009; Blackwell và cộng sự, 2006; Quester và cộng sự, 2011): Mô hình phản ứng kích thích và quy trình ra quyết định gồm 5 giai đoạn: (1) Nhận dạng vấn đề, (2) Tìm kiếm thông tin (nội bộ và bên ngoài), (3) Đánh giá các lựa chọn thay thế (theo các tiêu chí thuộc tính, giá cả, thương hiệu), (4) Quyết định mua hàng, và (5) Hành vi sau mua (mức độ hài lòng).
  • Lý thuyết sự hài lòng của khách hàng: Theo Oliver (2010), sự hài lòng là hàm số của kỳ vọng và hiệu suất cảm nhận, vận hành qua 4 cấu trúc: kỳ vọng, hiệu suất, xác nhận và hài lòng. Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1985, 1988, 1993).
  • Lý thuyết chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tín dụng: Thornton (2006), Krugman (2005) lý giải biến động phân bổ nguồn lực và bong bóng tài sản. Kiyotaki và Moore (1997), Allen và Gale (1997), Davis và Zhu (2009) phân tích tác động tương hỗ giữa mở rộng tín dụng ngân hàng, giá tài sản thế chấp và thanh khoản thị trường.
  • Lý thuyết tài chính hành vi và tâm lý thị trường: Shiller (2000, 2004), Case và Shiller (2003), Raines và Leathers (2000) giải thích hành vi đầu cơ, tâm lý đám đông và hiệu ứng truyền nhiễm kỳ vọng giá bất động sản.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án thiết kế quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng qua hai giai đoạn:

Nghiên cứu sơ bộ (Định tính & Khảo sát thử nghiệm n = 50 tại Hà Nội)
Hiệu chỉnh thang đo, hoàn thiện bảng hỏi khảo sát chính thức
Nghiên cứu chính thức (Khảo sát n = 950 tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM)
Thống kê mô tả &             Phân tích hồi quy &                Mô hình chuỗi thời gian
Kiểm định so sánh           Ước lượng biến công cụ            VECM (Kinh tế vĩ mô)
(T-test, ANOVA, Bonferroni,         (IV)                     (Kiểm tra tính dừng, phân rã
Dunn-test)                                                   phương sai giá nhà)
  1. Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ:
  • Mục đích: Khám phá, điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu phù hợp với thực tiễn thị trường nhà ở Việt Nam.
  • Kỹ thuật: Phỏng vấn trực tiếp chuyên gia và khảo sát thử nghiệm bằng bảng hỏi.
  • Quy mô mẫu: n = 50 chủ căn hộ trên địa bàn Hà Nội, chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
  1. Giai đoạn nghiên cứu chính thức:
  • Phương pháp: Điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát có cấu trúc đối với đối tượng là chủ sở hữu các căn hộ giá thấp và trung bình (bao gồm NOXH và NOTMTBT).
  • Quy mô mẫu: n = 950 mẫu tại ba địa bàn: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp từ điều tra hộ gia đình; dữ liệu thứ cấp về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và giá nhà phục vụ phân tích mô hình chuỗi thời gian.
  1. Phương pháp phân tích dữ liệu:
  • Phân tích thống kê mô tả: Đo lường tần số, tỷ lệ, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn đặc điểm nhân khẩu học và thuộc tính căn hộ.
  • Các kiểm định so sánh giá trị trung bình: Kiểm định tham số Independent Samples T-test (so sánh 2 nhóm: NOXH và NOTMTBT; nhóm vay vốn và không vay vốn hỗ trợ), kiểm định phân tích phương sai một yếu tố One-way ANOVA (so sánh giữa các nhóm địa bàn, thu nhập, học vấn, nghề nghiệp), kiểm định sâu sau ANOVA bằng kiểm định Bonferroni, và kiểm định phi tham số Dunn-test.
  • Phương pháp hồi quy và ước lượng biến công cụ (IV - Instrumental Variables): Đánh giá tác động của các nhân tố tài chính, phi tài chính tới việc tiếp cận vốn vay và sự hài lòng nhà ở; khắc phục hiện tượng nội sinh trong mô hình hành vi.
  • Phương pháp chuỗi thời gian vĩ mô: Kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu (Unit Root Test), ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véc-tơ (VECM) đối với các biến: Logarit giá nhà (LNHPRICE), Logarit chỉ số giá tiêu dùng (LNCPI), Logarit chi tiêu chính phủ (LNTCHI); phân tích phân rã phương sai (Variance Decomposition) biến động giá nhà.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu chung

Chương này thiết lập nền tảng tổng quan cho toàn bộ công trình:

  • Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn về nhà ở giá thấp và trung bình tại các đô thị Việt Nam và khoảng trống học thuật trong việc phân tích thực nghiệm tác động của các điều kiện tín dụng và yếu tố phi tài chính.
  • Công bố mục tiêu nghiên cứu, 4 nhiệm vụ cụ thể và 4 câu hỏi nghiên cứu định hướng.
  • Xác định đối tượng nghiên cứu (tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới việc lựa chọn mua nhà), phạm vi không gian (Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM), phạm vi thời gian (2012–2015), và giải trình lý do khoa học của việc giới hạn mẫu ở nhóm cư dân đã mua được nhà (NOXH và NOTMTBT).
  • Tóm tắt phương pháp tiếp cận hai bước (nghiên cứu sơ bộ n = 50; nghiên cứu chính thức n = 950) cùng các công cụ xử lý số liệu (T-test, ANOVA, Bonferroni, Dunn-test, hồi quy IV, VECM).
  • Nêu tóm tắt các đóng góp mới về lý luận, thực tiễn và phác thảo kết cấu 5 chương của luận án.

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về việc lựa chọn mua nhà ở giá thấp và trung bình

Chương 2 thực hiện việc tổng thuật tài liệu và xây dựng khung lý thuyết:

  • Hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về nhân tố tài chính: biến động tỷ suất sinh lời, lãi suất, lạm phát, cơ chế truyền dẫn tiền tệ qua thị trường bất động sản (sơ đồ Elbourne, 2008), sự sẵn có của tín dụng, hiệu ứng giàu có và tác động của khủng hoảng tài chính.
  • Tổng quan các nhân tố phi tài chính: đặc tính kỹ thuật công trình (bên trong và bên ngoài), chất lượng dịch vụ quản lý vận hành (5 khía cạnh chất lượng của Parasuraman), vị trí địa lý, hạ tầng xã hội và đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình.
  • Tổng quan các nhân tố chi phối sự hài lòng của khách hàng đối với nhà ở (quyền sở hữu, sự ổn định cộng đồng, thuộc tính căn hộ, thu nhập và sự gia tăng giá trị tài sản).
  • Phân tích cơ sở lý luận: Làm rõ khái niệm nhà ở giá thấp và trung bình; so sánh tiêu chuẩn phân loại của CBRE (Bảng 2.1) và các văn bản chính sách Việt Nam; đề xuất công thức tính ngưỡng giá căn hộ dựa trên thu nhập và GDP bình quân đầu người cho Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng.
  • Trình bày các lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hành vi người tiêu dùng (quy trình 5 bước), lý thuyết chu kỳ kinh doanh và chu kỳ tín dụng bất động sản, tài chính hành vi.
  • Tổng hợp và đề xuất danh mục các nhóm nhân tố tài chính (Bảng 2.2) và phi tài chính (Bảng 2.3) làm căn cứ xây dựng giả thuyết nghiên cứu.

Chương 3: Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp luận và các bước triển khai thực nghiệm:

  • Xây dựng quy trình nghiên cứu logic (Hình 3.1) từ khâu xác định vấn đề, tổng quan lý thuyết, thiết kế công cụ, thu thập dữ liệu đến phân tích định lượng.
  • Thiết lập hệ thống các giả thuyết nghiên cứu:
    • Giả thuyết về mối quan hệ giữa các nhân tố tài chính và quyết định mua nhà (Bảng 3.1).
    • Giả thuyết về các nhân tố phi tài chính và quyết định mua nhà (Bảng 3.2).
    • Giả thuyết về tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính đến sự hài lòng của khách hàng (Bảng 3.3).
  • Trình bày phương pháp thu thập thông tin: Nghiên cứu tài liệu thứ cấp tại bàn; phỏng vấn chuyên gia tại các hội thảo khoa học; quy trình khảo sát thử nghiệm (n = 50) và khảo sát chính thức diện rộng (n = 950).
  • Mô tả chi tiết các phương pháp phân tích định lượng: Kỹ thuật phân tích thống kê mô tả; các kiểm định tham số so sánh giá trị trung bình (T-test, ANOVA) kèm kiểm định sâu Bonferroni và kiểm định phi tham số Dunn-test; phương pháp hồi quy tuyến tính; phương pháp ước lượng biến công cụ (IV); và kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian kinh tế lượng vĩ mô (kiểm tra tính dừng, mô hình VECM).

Chương 4: Kết quả phân tích tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới việc lựa chọn và sự hài lòng nhà ở giá thấp và trung bình của hộ gia đình ở Việt Nam

Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm, trình bày toàn bộ kết quả phân tích số liệu:

  • Phân tích bối cảnh phát triển và thực trạng phân khúc nhà ở giá thấp và trung bình tại Việt Nam.
  • Thống kê mô tả đặc điểm kinh tế - xã hội của người mua nhà và đặc điểm căn hộ:
    • Phân tích so sánh theo loại hình căn hộ NOXH và NOTMTBT (Bảng 4.1 và Bảng 4.4).
    • Phân tích so sánh theo khu vực địa lý giữa Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM (Bảng 4.2 và Bảng 4.6).
    • Phân tích so sánh giữa nhóm có vay vốn hỗ trợ và nhóm không vay vốn hỗ trợ (Bảng 4.3 và Bảng 4.5).
  • Đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố tài chính và phi tài chính khi ra quyết định mua nhà:
    • So sánh giữa khách hàng mua NOXH và NOTMTBT (Bảng 4.7 và Bảng 4.13).
    • So sánh giữa nhóm vay hỗ trợ và không vay hỗ trợ (Bảng 4.8).
    • So sánh giữa 3 thành phố khảo sát (Bảng 4.9 và Bảng 4.17).
    • So sánh theo nhóm nghề nghiệp của chủ hộ (Bảng 4.10 và Bảng 4.15).
    • So sánh theo trình độ học vấn của người mua (Bảng 4.11 và Bảng 4.16).
    • So sánh tầm quan trọng của các nhân tố tài chính theo nhóm thu nhập (Bảng 4.14).
  • Phân tích thực nghiệm các nhân tố tác động tới khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng (Bảng 4.18 và Bảng 4.19).
  • Phân tích mức độ hài lòng của cư dân và các nhân tố chi phối sự hài lòng đối với nhà ở (Bảng 4.20 và Bảng 4.21).
  • Phân tích chuỗi số liệu kinh tế vĩ mô: Thống kê mô tả chuỗi dữ liệu (Bảng 4.22); kết quả kiểm định nghiệm đơn vị kiểm tra tính dừng (Bảng 4.23); ước lượng mô hình VECM đối với hệ biến LNHPRICE, LNCPI, LNTCHI (Bảng 4.24); và phân tích phân rã phương sai biến động giá nhà (Bảng 4.25).

Chương 5: Kết luận và một số đề xuất, kiến nghị

Chương 5 đúc kết kết quả nghiên cứu và chuyển hóa thành các giải pháp:

  • Tổng hợp kết quả nghiên cứu chính và bảng tổng kết kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 5.1).
  • Đề xuất hệ thống hàm ý chính sách và kiến nghị cụ thể:
    • Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách về phát triển nhà ở xã hội, cơ chế tín dụng ưu đãi, quy hoạch hạ tầng.
    • Kiến nghị đối với các chủ đầu tư, doanh nghiệp phát triển bất động sản về cơ cấu diện tích, giá bán, nâng cao chất lượng thi công và dịch vụ vận hành.
    • Kiến nghị đối với hệ thống ngân hàng thương mại về thiết kế gói vay, đơn giản hóa thủ tục thế chấp, thời hạn vay và chính sách lãi suất.
  • Trình bày các hạn chế chưa giải quyết hết của đề tài và định hướng các nội dung nghiên cứu mở rộng trong tương lai.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa một cách có cơ sở khoa học lý thuyết về các nhân tố tài chính và phi tài chính tác động đến quyết định lựa chọn mua và sự hài lòng đối với nhà ở giá thấp và trung bình của hộ gia đình.
  • Xây dựng thành công khung phân tích tích hợp đánh giá đồng thời hai giai đoạn của hành vi tiêu dùng nhà ở: giai đoạn trước mua (đánh giá tiêu chí và quyết định mua) và giai đoạn sau mua (sự hài lòng của khách hàng).

Về mặt thực tiễn:

  • Xác định và lượng hóa cụ thể mức độ tác động của các nhóm nhân tố tài chính (thu nhập hộ gia đình, khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng, thời hạn thanh toán) và các nhóm nhân tố phi tài chính (đặc tính công trình, vị trí, chất lượng dịch vụ, môi trường, nhân khẩu học) tại ba thành phố lớn ở Việt Nam (Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM).
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định vai trò của các chính sách tín dụng hỗ trợ nhà ở đối với quyết định sở hữu nhà của hộ gia đình có thu nhập thấp và trung bình.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng so sánh chi tiết sự khác biệt về hành vi tiêu dùng giữa hai phân khúc NOXH và NOTMTBT, giữa các vùng địa lý, cũng như theo các nhóm thu nhập, trình độ học vấn và nghề nghiệp khác nhau.
  • Làm rõ định lượng tác động của các cú sốc vĩ mô (lạm phát CPI, chi tiêu chính phủ TCHI) đối với biến động của giá nhà thông qua mô hình kinh tế lượng VECM.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án đề xuất các nhóm giải pháp chính theo ba phân nhóm chủ thể:

  1. Đối với cơ quan hoạch định chính sách:
  • Cần tiếp tục duy trì và mở rộng các gói tín dụng hỗ trợ nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá thấp với lãi suất ổn định và thời hạn vay dài hơn, nhằm tháo gỡ rào cản hạn chế tín dụng cho người mua nhà lần đầu.
  • Rà soát, đơn giản hóa các tiêu chí, thủ tục xét duyệt đối tượng được mua NOXH và đối tượng được tiếp cận gói vay ưu đãi.
  • Đẩy mạnh quy hoạch quỹ đất và đầu tư chi tiêu công vào cơ sở hạ tầng giao thông kết nối ngoại vi đô thị, tạo điều kiện hình thành các dự án nhà ở giá thấp nhưng có khả năng tiếp cận dịch vụ tốt.
  1. Đối với các doanh nghiệp đầu tư bất động sản:
  • Cần định vị lại phân khúc sản phẩm dựa trên ngưỡng giá chi trả thực tế của từng địa phương (dưới 2 tỷ đồng tại Hà Nội, dưới 1,7 tỷ đồng tại TP.HCM, dưới 1,2 tỷ đồng tại Đà Nẵng).
  • Chú trọng tối ưu hóa thiết kế căn hộ (diện tích vừa phải, công năng hợp lý) và đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, cảnh quan, hệ thống thoát nước, an toàn cháy nổ.
  • Nâng cao chất lượng dịch vụ quản lý vận hành sau bán hàng (tính tin cậy, sự phản hồi nhanh chóng của ban quản lý) nhằm duy trì mức độ hài lòng của cư dân.
  1. Đối với hệ thống ngân hàng thương mại:
  • Thiết kế các sản phẩm tín dụng thế chấp linh hoạt cho nhóm khách hàng thu nhập trung bình thấp: kéo dài thời hạn vay vốn, áp dụng cơ chế thanh toán gốc và lãi phù hợp với dòng tiền tích lũy của hộ gia đình trẻ.
  • Cải tiến quy trình thẩm định tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay tại các dự án nhà ở xã hội và thương mại trung bình thấp để đẩy nhanh tiến độ giải ngân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các hạn chế được văn bản đề cập rõ ràng:

  • Giới hạn về dàn mẫu nghiên cứu: Do điều kiện thực tế không thể tiếp cận và xây dựng được dàn mẫu thông tin của những người chưa mua hoặc không mua được nhà trên cùng địa bàn, luận án chỉ giới hạn khảo sát trên nhóm đối tượng là những người đã mua được nhà ở xã hội và nhà ở thương mại trung bình thấp. Điều này giới hạn khả năng so sánh đối chứng hành vi giữa nhóm mua thành công và nhóm không mua được nhà.
  • Giới hạn về phạm vi không gian: Nghiên cứu mới chỉ tập trung khảo sát tại ba đô thị lớn là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các đô thị loại hai hoặc các tỉnh thành có tốc độ đô thị hóa nhanh khác.
  • Giới hạn về phạm vi thời gian: Khảo sát sơ cấp thu thập số liệu tập trung trong giai đoạn 2012–2015.
  • Giới hạn nội dung phân tích tài chính: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào giác độ hành vi của hộ gia đình (thu nhập, khả năng tiếp cận tín dụng, thời gian thanh toán) và một số biến vĩ mô chọn lọc (chi tiêu chính phủ, GDP, lạm phát).

Định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra đối chứng sang nhóm đối tượng có nhu cầu nhưng chưa mua được nhà ở để xác định rõ nét hơn các rào cản ngăn cản quyết định mua.
  • Mở rộng khảo sát tới các địa bàn đô thị vệ tinh và các trung tâm công nghiệp lớn nhằm kiểm chứng tính đại diện vùng miền.
  • Cập nhật chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô và khảo sát hộ gia đình trong các giai đoạn biến động mới của thị trường bất động sản.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính – Ngân hàng, Bất động sản: Luận án là tài liệu tham khảo trong việc kết hợp các khung lý thuyết kinh tế học hành vi, lý thuyết chu kỳ kinh doanh và chất lượng dịch vụ; cung cấp quy trình nghiên cứu hai bước chuẩn tắc và ứng dụng thực tiễn các kỹ thuật định lượng (T-test, ANOVA, Bonferroni, Dunn-test, hồi quy IV, mô hình VECM).
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước, UBND các tỉnh, thành phố): Cung cấp phương pháp xác định ngưỡng giá nhà ở vừa túi tiền theo đặc thù thu nhập từng địa phương, cùng các luận cứ thực nghiệm về hiệu quả của các gói tín dụng hỗ trợ nhà ở.
  • Đối với các nhà phát triển dự án bất động sản: Các bảng phân tích so sánh mức độ ưu tiên của khách hàng theo loại hình nhà ở, học vấn, thu nhập và khu vực là căn cứ thực tế để nghiên cứu tiền khả thi và thiết kế sản phẩm.
  • Đối với các ngân hàng thương mại: Là nguồn dữ liệu thực tế giúp bộ phận phát triển sản phẩm bán lẻ đánh giá nhu cầu tín dụng và các yếu tố cản trở tiếp cận vốn của phân khúc khách hàng đại chúng.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa và xác định ngưỡng giá nhà ở giá thấp và trung bình tại Việt Nam bằng phương pháp nào?

Luận án chỉ ra rằng mức trần cứng nhắc (như dưới 15 triệu đồng/m² theo Nghị quyết số 02/NQ-CP hoặc dưới 16 triệu đồng/m² theo CBRE) không phản ánh được sự chênh lệch thu nhập giữa các vùng. Do đó, luận án sử dụng phương pháp tỷ lệ giữa giá nhà và thu nhập bình quân hộ gia đình (Murdie, 2003; Chen và cộng sự, 2010), kết hợp tham vấn chuyên gia, đưa ra ngưỡng giá trần: dưới 2,0 tỷ đồng tại Hà Nội; dưới 1,7 tỷ đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh; và dưới 1,2 tỷ đồng tại Đà Nẵng.

2. Quy mô mẫu và địa bàn khảo sát thực tế của luận án được triển khai ra sao?

Nghiên cứu triển khai theo 2 bước:

  • Nghiên cứu sơ bộ: Khảo sát định tính và điều tra thử nghiệm bằng bảng hỏi với quy mô n = 50 chủ căn hộ tại Hà Nội theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
  • Nghiên cứu chính thức: Điều tra bảng hỏi định lượng với quy mô n = 950 chủ căn hộ đã mua nhà ở xã hội (NOXH) và nhà ở thương mại trung bình thấp (NOTMTBT) tại ba thành phố: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Vì sao luận án không khảo sát nhóm đối tượng không mua được nhà?

Theo giải trình của tác giả trong phạm vi nội dung nghiên cứu, việc xác định hành vi mua hay không mua nhà về mặt lý thuyết đòi hỏi phải có mẫu đối chứng giữa người mua và người không mua. Tuy nhiên, việc thiết lập dàn mẫu thông tin của những người không mua được chung cư trên cùng địa bàn trong thực tế là không khả thi. Do đó, luận án giới hạn đối tượng khảo sát vào những hộ gia đình đã mua được NOXH và NOTMTBT.

4. Những kỹ thuật phân tích định lượng cụ thể nào được sử dụng trong luận án?

Luận án sử dụng:

  • Thống kê mô tả (tần số, giá trị trung bình).
  • Kiểm định so sánh trung bình: Independent Samples T-test, One-way ANOVA, kiểm định sau ANOVA Bonferroni và kiểm định phi tham số Dunn-test.
  • Phân tích hồi quy và phương pháp biến công cụ (IV).
  • Phân tích chuỗi thời gian kinh tế lượng vĩ mô: Kiểm tra nghiệm đơn vị tính dừng, mô hình VECM đối với 3 biến số LNHPRICE, LNCPI, LNTCHI và phân rã phương sai biến động giá nhà.

5. Cơ chế truyền dẫn lãi suất đến thị trường bất động sản được luận án trình bày dựa trên mô hình nào?

Luận án trình bày cơ chế truyền dẫn qua sơ đồ của Elbourne (2008). Khi lãi suất tăng, cơ chế tác động qua 2 kênh:

  • Kênh trực tiếp (dòng tiền/thu nhập): Lãi suất tăng làm tăng gánh nặng trả nợ dư nợ, giảm thu nhập khả dụng sau chi phí nhà ở, dẫn đến giảm tiêu dùng.
  • Kênh gián tiếp: Lãi suất cao hơn làm giảm giá trị tài sản nhà đất (hiệu ứng giàu có suy giảm) và làm giảm giá trị tài sản thế chấp (hiệu ứng kênh tín dụng), từ đó buộc hộ gia đình hạn chế tín dụng phải cắt giảm tiêu dùng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh đã giải quyết mục tiêu nghiên cứu về tác động của các nhân tố tài chính và phi tài chính tới quyết định lựa chọn mua và sự hài lòng đối với nhà ở giá thấp và trung bình của hộ gia đình tại Việt Nam. Thông qua quy trình nghiên cứu hai giai đoạn với mẫu khảo sát thực địa 950 hộ dân tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM kết hợp mô hình kinh tế lượng VECM chuỗi thời gian, công trình đã lượng hóa vai trò của khả năng tiếp cận tín dụng, điều kiện vay vốn, đặc tính căn hộ và dịch vụ quản lý trong thị trường nhà ở thực tế. Các kết quả và phát hiện thực nghiệm của luận án cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật cho các nghiên cứu tiếp nối về tài chính nhà ở, đồng thời đưa ra các hàm ý cụ thể cho cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp phát triển dự án và ngân hàng thương mại.